I- MẠC THIÊN TÍCH (1706 – 1780) VÀ CHIÊU ANH CÁC
(1736):
*
Mạc Thiên Tích (Tứ) là con Mạc Cữu, sanh năm 1706 ở Trủng Kè (Réam) Campuchea, Tộc danh là Tông về sau đổi thành Mạc Thiên Tứ, tự Sĩ Lân, hiệu Sĩ Lân Thị. Năm 1735, Mạc Cữu mất, chúa Nguyễn Phong cho Thiên Tích chức Tổng trấn Hà Tiên lo chấn hưng văn hóa, tổ chức hội thơ, lập thi phái Chiêu Anh Các, lập văn miếu thờ Khổng phu tử.
Năm 1753, khi Nguyễn Cư Trinh cử binh sang chinh phạt Nặc Nguyên v́ Nặc Nguyên hà hiếp dân Côn man và thông sứ với đàng ngoài. Đến năm 1755 Nặc Nguyên thua bỏ chạy qua Hà Tiên sống nương náu với Mạc Thiên Tích. Thiên Tích dâng sớ xin với Nguyễn vương cho Nặc Nguyên về làm vua Chân lạp và Nặc Nguyên sẽ hiến đất Tầm Bôn (Mỹ Tho) và Lôi Lạp (G̣ Công) để chuộc tội. Nguyễn Cư Trinh cũng dâng sớ về triều xin Chúa Nguyễn dung chính sách “Tàm thực”, chính sách này được Chúa Nguyễn thuận cho.
Năm 1757, Nặc Nguyên mất, Nặc Nhuận làm quốc giám rồi cướp ngôi, đến năm sau bị con rể là Nặc Hinh giết chết. Trong khi ấy con Nặc Nguyên là Nặc Tôn cũng chạy sang Hà Tiên cầu cứu với Mạc Thiên Tích. Mạc Thiên Tích lại dâng số về triều xin với Chúa Nguyễn cho Nặc Tôn về làm vua Chân Lạp. Vơ Vương bèn cho Trương Phúc Du ở Gia Định cử quân sang đánh Chân Lạp, Nặc Hinh thua chạy bị kẻ thuộc hạ giết chết. Mạc Thiên Tích đưa Nặc Tôn về làm vua Chân Lạp, lại được Vơ Vương phong cho chức Phiên vương. Để tạ ơn, Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc năm 1759) cho Chúa Nguyễn, rồi cắt 5 phủ vùng duyên hải từ Sré Ambel đến Réam để tạ ơn họ Mạc. Mạc Thiên Tích bèn dâng cho Vơ vương, Vơ vương bèn cho sáp nhập vào trấn Hà Tiên.
Năm 1767, nước Xiêm bị Miến Điện xâm lấn, vua Xiêm bị giết, hoàng tử Chiêu Thùy chạy sang Hà Tiên tá túc với Mạc Thiên Tích. Trịnh Tân (Người Trung Hoa). Sau khi dẹp yên giặc trong nước, liền lên ngôi vua nước Xiêm, rồi có ư đ̣i Mạc Thiên Tích đưa hoàng tử Chiêu Thùy về để giết đi mà trừ hậu hoạn, trong lúc đó th́ Mạc Thiên Tích muốn giúp Chiêu Thùy khôi phục lại ngai vàng, nên hai lần sai con rể và cháu cử binh sang đánh, mỗi lần như thế Trịnh Tân đều dùng thế cầm chân, quân của họ Mạc v́ không quen phong thổ phải bỏ mạng rất nhiều, hoặc bị băo đánh đắm chiến thuyền nên phải rút quân về.
Đến năm 1771, quân Xiêm đă mạnh, Trịnh Tân bèn cử binh sang đánh, quân của họ Mạc yếu kém nên Hà Tiên thất thủ, Mạc Thiên Tích bỏ thành chạy về Gia Định. Măi đến năm 1773 theo lệnh Định Vương, Thiên Tích cử người sang Xiêm thương thuyết, Trịnh Tân mới giao trả lại Hà Tiên.
Năm 1774, Tây Sơn nổi lên và Trịnh Sâm lại cử binh đánh lấy Phú Xuân, Định Vương thua chạy vào Gia Định. Thiên Tích đem các con về Gia Định ra mắt Định Vương, trong dịp này được Định vương phong cho là Quốc lăo Đô đốc Quận công và cũng phong chức cho ba người con của Thiên Tích là Tử Hoàng, Tử Thượng và Tử Dung.
Thiên Tích sai Tử Dung theo Tống Phúc Hợp đem quân đánh Tây Sơn, lấy lại được ba phủ B́nh Thuận, Diên Thuận và B́nh Khánh.
Năm 1776, Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn vương, không c̣n dùng chiêu bài của Đông cung Nguyễn Phúc Dương nữa, nên Đông cung lén trốn được về Gia Định, Định Vương được tôn lên làm Thái Thượng vương và Đông cung làm Tân Chính vương.
Năm 1777, Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ vào đánh Gia Định, Chúa Nguyễn thua, Nguyễn Huệ đuổi theo bắt được Thái Thượng vương ở Long Xuyên (Cà Mau) và Tân Chính vương ở Ba Vát (Vĩnh Long), cả hai bị đưa về Gia Định giết. C̣n Nguyễn Ánh chạy theo sông Ông Đốc rồi trốn qua đảo Thổ Châu (Poulo Panjang), c̣n Mạc Thiên Tích và Hoàng thân Xuân trước chạy qua Lan Xan (khỏi Chantaboun – nước Xiêm), chưa có ư định tá túc ở Xiêm th́ Trịnh Tân hay được bèn cho sứ đến mời ông về ngụ tại Vọng Các. Bên ngoài ra chiêu tiếp đăi tử tế, mà thật tâm th́ giam lỏng ông, nên năm 1977, Nguyễn Ánh khôi phục được Gia Định rồi, có cử sứ sang Xiêm để rước Thiên Tích về nhưng Trịnh Tân không cho. Năm 1780, sau khi xưng vương, Nguyễn Ánh cử người sang rước Thiên Tích, Hoàng thân Xuân, một lần nữa Trịnh Tân cũng không thuận cho, c̣n bày mưu đánh khảo Hoàng thân Xuân và thuộc hạ, nên Thiên Tích phẩn chí nuốt vàng lá tự tử. Sau triều Nguyễn sắc phong cho ông là Hà Tiên trấn, Tổng binh Đại Đô đốc, Quốc lăo Sùng quận công.
Về Chiêu Anh Các, một hội tao đàn mà nơi ấy cũng là văn miếu được thành lập như sau: “Mùa xuân năm 1736, có Trần Trí Khải hiệu Hoài Thủy từ Trung Quốc sang Hà Tiên chơi, Mạc Thiên Tích trọng đăi vào hàng thượng khách, trong khi nhàn hạ ngâm vịnh với nhau, Thiên Tích có đem “Hà Tiên thập cảnh” cho Trần Trí Khải xem, rồi Trần Trí Khải dựng nên Tao Đàn, gọi là Chiêu Anh Các. Sau đó Trần Trí Khải về Quảng Đông đưa ra những bài xướng họa, được một số văn nhân họa them, rồi ông ta gom thành tập gởi về Hà Tiên, thượng tuần tháng sáu năm Định Vị (1737) Mạc Thiên Tích đề bài Tự ở Thụ Đức Hiên để in mộc bản. Trong trận giao tranh với quân Xiêm năm 1771, dưới ngọn lửa bạo tàn của Trịnh Tân, đă thiêu đốt phần nào cơ nghiệp của Mạc Cữu khai phá tạo dựng nên đất Phương Thành, chẳng những là một sự hủy họai công tŕnh họ Mạc mà văn học sử Việt Nam cũng mất một kho tàng quư giá, ngày nay chúng ta không c̣n có đủ tài liệu để mô tả của nhóm Chiêu Anh Các thật sự là bao nhiêu, nếu căn cứ vào hai câu thơ c̣n truyền tụng lại :
Tài hoa lam lập trứ Phương Thành,
Nam Bắc hàm vạn thập bát anh.
Th́ những bậc tài hoa ở Phương Thành đông đúc, nhưng Nam Bắc xưng tụng 18 vị.
Theo sách “Phủ hiên tạp lục” của Lê Quư Đôn (khắc bản năm 1776) ông cho biết có giữ được sách in bản “Hà Tiên Thập Vịnh” do Mạc Thiên Tích xướng 10 bài có 31 danh sĩ khác họa lại, nên tổng cộng 320 bài đường luật.
Mười cảnh đó được Mạc Thiên Tích đặt tên như sau :
1- Kim dự lan đào (Ḥn đảo vàng ngăn chận sóng to)
金 嶼 欄 濤
2- B́nh san điệp thúy (Núi dựng một màu xanh)
屏 山 疊 翠
3- Tiêu tự thần chung (Tiếng chuông sớm ở ngôi chùa tịch mịch)
蕭 寺 晨 鐘
4- Giang thành dạ cổ (Tiếng trống đêm ở thành lính ven sông)
江 城 夜 鼓
5- Thạch động thôn vân (Động đá nuốt mây)
石 洞 吞 雲
6- Châu nham lạc lộ (Núi ngọc c̣ đậu)
珠 岩 落 鹭
7- Đông hồ ấn nguyệt (Hồ Đông in bóng trăng)
東 湖 印 月
8- Nam phố trừng ba (Bờ biển Nam lặng sóng)
南 浦 澄 波
9- Lộc trỉ thôn cư (Thôn trại ở Mũi Nai)
鹿 峙 村 居
10- Lư khê ngư bạc (Thuyền đỏ ở rạch Vượt)
鱸 溪 漁 泊
Lê Quư Đôn có chép rơ danh sách 31 vị đă họa 10 bài vịnh “Hà Tiên thập vịnh”, gồm có 25 danh sĩ Trung Hoa :
1- Chu Phác
2- Ngô Chi Hàn
3- Đan Bỉnh Ngự
4- Lư Nhân Trường
5- Vương Xướng
6- Vương Đắc Lộ
7- Lộ Phùng Cát
8- Từ Hiệp Phỉ
9- Trần Dược Uyên
10- Trần Minh Hạ
11- Trần Diễn Tú
12- Tôn Văn Trân
13- Tôn Thiên Thụy
14- Tôn Quư Mậu
15- Lâm Duy Tắc
16- Từ Hoằng
17- Lâm Kỳ Nhiên
18- Trần Duy Đức
19- Từ Đăng Cơ
20- Dương Ngọc Sùng
21- Trần Bá Phát
22- Hoàng Kỳ Trân
23- Châu Cảnh Dương
24- Trần Thụy Phượng
25- Trần Tự Hương
Và 6 danh sĩ Việt Nam :
1- Trịnh Liên Sơn
2- Phan Thiên Quảng
3- Nguyễn Nghi
4- Trần Trinh
5- Đặng Minh Bản
6- Mạc Triêu Đán
Về sau khi Nguyễn Cư Trinh vào Nam chinh phạt Nặc Nguyên năm 1753 có đến Hà Tiên thảo luận sách lược và có ngâm vịnh với Mạc Thiên Tích nên ông có họa thêm 10 bài, như thế trong ấn bản kỳ đầu khắc năm 1737 chỉ có 320 bài xướng họa và sau này thêm phần của Nguyễn Cư Trinh vào nâng lên tổng số là 330 bài và cũng có thể c̣n nhiều hơn số mà chúng ta được biết, chỉ tiết rằng cuộc chinh chiến năm 1771 tại Phương Thành, đă thiêu rụi Chiêu Anh Các, nên ngày nay chúng ta chỉ c̣n biết 33 vị có làm thơ xướng họa thôi.
Đến năm 1977, Lê Quư Đôn viết “Kiến văn tiểu lục”, cho biết Mạc Thiên Tích c̣n có thơ hồi văn, vịnh bốn mùa ở Thụ Đức hiên, ông không chép bài nào của họ Mạc xướng, mà lại chép 9 bài họa của 9 danh sĩ, có lẽ đó là những bài thích ư mà Lê Quư Đôn đă chọn lựa. Ông có kê rơ 32 danh sĩ có thơ họa và kể thêm Mạc Thiên Tích là 33 vị bằng với số các danh sĩ xướng họa theo “Hà Tiên Thập Vịnh”. Sau đây là danh sách do Lê Quư Đôn ghi lại :
1- Dư Tích Thuần
2- Uông Hề Lai (Đ)
3- Thái Đạo Pháp (T)
4- Lê Giản Tư
5- Lư Sĩ Liên
6- Trần Thành Bích (T)
7- Phương Thu Bạch (X)
8- Tư Trù
9- Trương Giai
10- Trần Đ́nh Tảo
11- Nghê Nguyên Khâm
12- Trần Trí Khải (T)
13- Nhan Chung Ḥang
14- Chung Vĩnh Ḥa
15- Lê Dự
16- Lương Loan
17- Lưu Chương (H)
18- Phương Lộ
19- Trần Diệu Liên (H)
20- Tráng Huy Diệu (X)
21- Trần Xuân
22- Lương Thừa Tuyên
23- Đỗ Văn Hổ (Đ)
24- Lê Chương Húc
25- Đàm Tương
26- Ḥang Đỗ
27- Mă Văn Chấn
28- Ngô Điển
29- Ḥang Nguyên Hội
30- Ngư Đ́nh Hiền
31- Phương Dự
32- Phùng Diễn
Sách Gia Định Thông Chí của Trịnh Ḥai Đức có ghi đến 36 văn nhân.
Văn nhân tỉnh Phúc Kiến, gồm 15 vị :
1- Chu Phác
2- Trần Minh Hạ
3- Châu Cảnh Dương
4- Ngô Chi Hàn
5- Lư Nhân Trường
6- Trần Duy Đức
7- Trần Diệu Uyên
8- Trần Tự Nam
9- Trần Huyễn
10- Lâm Duy Tắc
11- Tạ Chương (+)
12- Đan Bỉnh Ngự
13- Vương Đắc Lộ
14- Từ Hiệp Bùi
15- Từ Đăng Cơ
Văn nhân tỉnh Quảng Đông, gồm 13 vị :
1- Lâm Kỳ Nhiên
2- Tôn Thiên Thụy
3- Lương Hoa Phong (+)
4- Tôn Văn Trân
5- Lộ Phùng Cát
6- Thang Ngọc Vinh
7- Dư tích Thuần
8- Trần Thụy Phượng
9- Lư Triệu Huynh (+)
10- Trần Thiệp Tú
11- Vương Xưởng
12- Ḥang Kỳ Trân
13- Trần Bá Phát
Văn nhân phủ Triệu Phong, gồm 4 vị :
1- Phan Đại Quảng
2- Nguyễn Nghi
3- Trần Ngoan
4- Đặng Minh Bản
Văn nhân phủ Gia Định, gồm 2 vị :
1- Trịnh Liên San
2- Lê Bá B́nh (+)
Văn nhân phủ Qui Nhơn, gồm 2 vị :
1- Ḥa thượng Hoàng Long (+)
2- Đạo sĩ Tô Dần (+) – gốc tỉnh Phúc Kiến
Với 3 danh sách này, kể cả Mạc Thiên Tích và Nguyễn Cư Trinh th́ gồm cả thảy 71 vị văn nhân.
Có lẽ Chiêu Anh Các là nơi tập hợp các cuộc xướng họa của nhiều văn nhân không đến Hà Tiên nhưng có thơ trong nhóm Chiêu Anh Các như các văn nhân Trung Hoa đă gửi các bài họa sang mà thôi, vậy th́ số hội viên trong nhóm Chiêu Anh Các là bao nhiêu? Cho đến nay khó mà xác định được, tạm thời chúng ta gọi là nhóm Chiêu Anh Các, nhưng thật ra có lẽ không phải là Hội Tao Đàn, chẳng qua Mạc Thiên Tích đă tập trung những bài xướng họa gọi chung là Chiêu Anh Các, để ghi lại nơi phát xuất các bài thơ đă nói tới mà thôi.
Căn cứ vào bài tân Tự của Trịnh Hoài Đức viết trong tập “Minh bột di ngư” do ông trùng bản năm 1821 tại kinh đô Huế, th́ Mạc Thiên Tích và nhóm Chiêu anh Các gồm có những tác phẩm sau đây:
1- Hà Tiên toàn cảnh tập 1
2- Minh bột di ngư thi thảo
3- Hà Tiên Vịnh vật thi tuyển
4- Châu Thị trinh liệt tặng ngôn
5- Thi truyện tặng Lưu tiết phụ
6- Thi thảo cách ngôn vị lập
Và nội dung quyển “Minh bột di ngư” này gồm có 32 bài thơ đường luật mà trước kia nó là tập “Lư khê nhàn điếu phú”. Đây là tác phẩm riêng của Mạc Thiên Tích và đây là bài tân Tự của Trịnh Hoài Đức.
“Mạc đô đốc, Tôn quận công, tên là Thiên Tứ, hiệu Sĩ Lân, làm quan Tổng trấn Hà Tiên.
Thân sinh của Ngài là Mạc Cữu người ở Lôi Châu, Việt Đông, đem cả gia quyến trú phương Nam, ở đất Chân Lạp, chiếm cứ Hà Tiên, quy thuận triều Nguyễn, được phong chức Thống binh, tước hầu.
Đến Mạc đô đốc càng thêm hiển đạt. Ngài tính khí khái, thông minh hơn người, học thức uyên bác. ngài có công ruồng gai mở nẽo, lập nên thành lũy, mộ dân lưu lạc, xây dựng nhà cửa, lập ra làng xóm, nơi thâm sơn cùng cốc, ngài điểm tô xây dựng ra lâu đài, chốn biên cảnh hoang tàn, ngài giáo hóa, mở mang nền văn vật.
Ngài cầu bậc hiền tài, kỳ sĩ, từ Phú Xuân tới Quảng Đông, để hỏi han về chính trị, giảng luận về thi văn, mở nền lễ giáo tận nơi duyên hải, tạo cảnh Bồng lai tự chốn lâm san.
Ngài thường lo trù họach việc bảo vệ biên cương, có th́ giờ nhàn hạ lại hay bày tiệc khoản đăi khách quư.
Hà Tiên là xứ sở, ngài phân ra làm mười thắng cảnh.
1- Kim dự lan đào
2- B́nh sơn diệp thúy
3- Tiêu tự thần chung
4- Giang thành dạ cổ
5- Thạch động thôn vân
6- Châu nham lạc lộ
7- Đông hồ ấn nguyệt
8- Nam phố trừng ba
9- Lộc trỉ thôn cư
10- Lư khê nhàn điếu.
Ngài cùng khách xướng họa thi thơ, hiệp thành 320 chương, tập thi này trao cho thợ in khắc thành bản.
Lư Khê chính là một trong mười cảnh Hà Tiên vậy. Về cảnh này có bài phú hơn trăm lời, thi 32 vận, đều là của ngài làm ra, rồi hiệp cả lại cho nhàn đề là “Minh bột di ngư” gọi là ngụ mối u hoài cảm khái tự chốn thâm tâm, chớ nào phải v́ chén rượu câu thi má xướng họa hăo đâu.
Mạc công vốn thọ bẩm một khối tinh thành, phụ vào một tâm hồn nghệ sĩ, khác nào một bức danh họa, trước khi được tô điểm xinh tươi, đă chịu một màu trắng tinh làm nền họa : chớ lúc ấy há phải là thời buổi để ngài nhả ngọc phun châu, dương mây, thổ khí, được tỏ điều đắc chí đâu.
Chính v́ ngài canh cánh nỗi cảm hoài cố quốc, đô thành mất tích, biến thành khuôn cảnh “thử ly” (1) ngài tư lương uất ức: dằn ḷng trung phẫn hư vô, gửi ḍng sóng bạc, muôn mắt tử phần muôn dặm, trông đám mây ngàn, nên ngài mượn lối thi thơ để giải bày tâm sự, ta há nên b́nh nghị ngài về chỗ vui chơi, nhàn hạ như ai đâu.
Tôi vào tuổi thành đồng (2) đă từng thấy :
- Hà Tiên thập cảnh toàn tập
- Minh bột di ngư thi thảo
- Châu thị trinh liệt tặng ngôn
- Thi truyện tặng Lưu tiết phụ
- Thi thảo cách ngôn vị tập.
Phàm sáu bộ sách đă xuất bản lưu hành.
Gần xa các bậc sĩ phu đọc từng bài, thưởng thức và thán phục.
Dầu ở tận cơi Nam thùy, Hà Tiên cũng nhờ đó mà trở thành trời Châu, đất Lỗ, nổi dậy tiếng tăm.
Từ Hà Tiên gặp cảnh binh hỏa, bản phiến sách xưa đều bị ngọn lửa cay nghiệt cháy thiêu, sách lưu hành cũng v́ đó mà lần lần thất lạc.
Đến lúc ra giúp nước, tôi (Trịnh Ḥai Đức) cố t́m các sách ấy mà không được gặp. Thường trằn trọc thâu đêm, trí măi vẫn vơ lo nghĩ về việc sưu tầm sách mất.
Tuy nhiên nhớ tới Mạc Công có phải chỉ v́ một việc văn chương phong nhă đó đâu.
Toàn thể công nghiệp lớn lao của ngài, tài đức cao siêu chói lọi của ngài từ xưa đến nay, công luận thảy đều xưng tụng, xét ra thật là chẳng ít.
Ḱa chiếc thân bèo giạt, khai thác muôn dặm đất đai, khéo chọn minh quân mà phụng sự, tự làm rào dậu cho quốc gia, biết trước an toàn cho con cháu, nay cháu ngài là Du hiện đang kế chức. Vậy đủ rơ trí thức của ngài sáng suốt, rộng răi là dường nào.
Ḱa thời kỳ thảo muội, cương đường lắm việc, ngài cùng với gia đ́nh khẩn súy tham mưu Nghi biểu hầu Nguyễn Cư Trinh tới lui bàn luận, trù tính việc quốc kế dân sinh, được tỏa hiệp nhiều phương, nay hăy c̣n roi dấu tích bao nhiêu công tŕnh xưa để ngự pḥng ngoại xâm, chỉnh tu nội trị. Vậy đủ rơ tài lược kinh tế của ngài là dường nào!
Ḱa năm Tân Măo (1771) đầu mùa đông, quân Xiêm xâm lược, thành côi không binh viện, Ngài phơi thân chốn rừng tên mũi đạn khuyến khích sĩ khí, quân tâm, chống giữ thành tŕ vững vàng suốt tháng. Đến lúc Thập thành bị công hăm, ngài tự đốc chiếm nơi ngơ hẽm, đường nguy, nguyện c̣n mất với cô thành. Vậy đủ rơ anh dũng, khí tiết của ngài là dường nào!
Ḱa lúc kinh sư nghiêng đỗ, ngự giá vào Nam cọp đói cường áp vùng Định Viễn, rồng thần thất thế tại Cần Thơ, ngài thiếu cả binh nhung, bộ tướng cũng chẳng có, thế mà ngài liều thân bảo vệ Nguyễn vương, ủy thác phần con kháng cự với quân giặc. Vậy đủ rơ ḷng trung nghĩa phấn phát của ngài là dường nào!
Ḱa gặp hồi vận nước đa truân, anh hùng không nơi dụng vơ, ngài sang đất Xiêm La, trù nghĩa phương thỉnh viện, chẳng may gặp phải vị vua vô đạo, nghe lầm lời sầm gián của triều thần, ngờ ngài lập cơ mưu chiếm nước đoạt ngôi, khiến ngài chịu hàm oan, ôm mối trung thành mà tự tận. Đó có phải là điềm thời chưa khai thông cuộc trị b́nh chăng?
Tôi vẫn khâm phục đạo làm người của Mạc công, mà cũng thương hại ngài ở chỗ thời mạng chẳng gặp. Tôi vẫn mong nêu cao danh tiết ngài sừng sựng đứng vững muôn năm, tranh vinh cùng sông núi.
Năm canh th́n (1820) mùa hạ, vâng mạng về kinh, thọ lănh bô vụ, tôi (Trịnh Ḥai Đức) may gặp được tập “Lư khê nhàn điếu” của ngài, rất khoan khoái đọc suốt cả đầu đuôi, mới rơ năm Bính Thần (1736), tháng hai, ngài in bản “Chiêu Anh Các”.
Nguyên bản có đọan khuyết mất không thể so sánh đâu được, tôi bèn lập ư bổ khuyết vào, rồi giao cho nhà in khắc bản. Chỗ dụng tâm là in lại sách của Mạc Công, mong để lại dấu tích như “Cam đàn”, “Nghiện bi”, khiến toàn hậu tiến c̣n nhớ tới Ngài luôn, chớ không phải v́ muốn thỏa măn bệnh mê thi họa của kẻ viết mấy hàng này.
Minh Mạng thứ hai (Tân Tỵ 1821), đầu mùa hạ, Lại bộ thượng thư An Toàn hầu Trịnh Cấn Trai tự tay thảo ra, Công thự ở kinh đô Phú Xuân.
(Ngạc Xuyên Đại Việt tạp chí số 12 ngày 01/06/1943)
TRÍCH VĂN:
1- Lư khê nhàn điếu :
其一
鱸 溪 泛 泛 夕 陽 東
Lư khê phiếm phiếm tịch dương công
冰 線 閒 拋 白 練 中
Băng tuyển nhàn phao bạch luyện trung
鱗 鬛 頻 來 黏 玉 餌
Lân liệp tần lai niêm ngọc nhỉ
烟 波 長 自 控 秋 風
Yên ba trường tự khống thu phong
霜 橫 碧 翟 虹 初 霽
水 浸 金 鉤 月 在 空
Thủy tẩm kim câu nguyệt tại không
海 上 斜 頭 時 獨 獨 笑
Hải thượng tà đầu thời độc tiếu
遗 民 天 外 有 漁 翁
Di dân thiên ngoại hữu ngư ông
Nghĩa: Sông lư bảng lảng ánh dương hồng
Ném sợi băng trên tấm lụa trong
Mồi ngọc đă làm ngon miệng cá
Cầu ṿng cần trúc hơi sương đượm
Trăng uốn vành câu bóng nước lồng
Lắm lúc ngửa nghiên cười với biển
Bên trời riêng một cơi ngư ông
2- Hà Tiên Thập Vịnh :
一 島 崔 嵬 奠 碧 漣
Nhất đảo thôi ngôi điện bích liên
橫 流 奇 勝 壯 河 仙
Hoành lưu kỳ thắng tráng Hà Tiên
波 濤 勢 截 東 南 海
Ba đào thế tiệt đông Nam hải
日 月 光 迴 上 下 天
Nhật nguyệt quang hồi thượng hạ thiên
得 水 魚 龍 隨 變 化
Đắc thủy ngư long tùy biến hóa
傍 崖 石 橱 自 聯 翩
Bàng nhai thạch thụ tự liên phiên
風 聲 浪 跡 應 長 據
Phong thanh lăng tích ứng trường cứ
濃 淡 山 川 異 國 懸
Nùng đạm sơn xuyên dị quốc huyền.
莫 天 錫
Một dăy non xanh nước bích liền
Giăng ngang cho mạnh đẹp sông Tiên
Đông Nam sóng biển bằng trang cả
Rồng cá vẩy vùng trong cơi nước
Đá xây xan xát khắp ven miền
Ngh́n thu tiếng gió quanh chân sóng
Đậm nhạt tranh treo nét lạ lùng.
3- Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh :
Nếu Hà Tiên thập vịnh có mục đích phổ biến trong giới trí thức về phong cảnh của Hà Tiên th́ Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh là một áng văn Nôm có mục đích truyền bá trong giới b́nh dân, hay nói khác hơn nó thuộc về văn học Nôm.
Đây là khúc vịnh, chia thành 10 đọan mỗi đoạn tả một cảnh trong mười cảnh ở Hà Tiên, mỗi đoạn gồm một khúc lục bát giáng thất chừng 30 câu, cuối mỗi đoạn có một bài vịnh làm theo thể Đường luật và cuối cùng có một bài tổng vịnh. Tóm lại Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh gồm 422 câu gồm 334 câu lục bát giáng thất và 88 câu của 11 bài đường luật thể thất ngôn bát cú.
Khúc vịnh này có lẽ được sáng tác cùng thời với Chinh phụ ngâm, nhưng đặc biệt hơn là suốt khúc vịnh áp dụng một lối gieo vần chữ thứ 8 câu 8 gieo vần vào chữ thứ 3 câu 7 và do đó thay v́ câu thất trắc chữ thứ ba thanh trắc chữ thứ ba thanh trắc lại phải đổi sang thanh bằng. Thí dụ :
.............................
Hễ là khách tiêu dao
Muôn cùng hứng ư trải bầu tam THIÊN
Trấn Hà TIÊN mỗi nơi một lạ
Người bốn phương riêng dạ ước ao
…………………………
Chúng ta cũng thấy lối gieo vần này qua bài ca dao “Nụ tầm xuân” sáng tác theo thể lục bát giáng thất biến thể
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm XUÂN
Nụ tầm XUÂN nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày c̣n không
Bây giờ em đă có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn CÂU
Cá cắn CÂU biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra
Và Chinh Phụ Ngâm cũng dùng kỹ thuật ấy trong một số câu :
………………………………..
7 Chín lần gương báu trao tay
Nữa đêm truyền hịch định ngày xuất CHINH
Nước thanh B̀NH ba trăm năm cũ
…………………………………
110 Nỗi ḷng biết ngỏ cùng ai
Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân MÂY
Trong cửa NÀY đă đành phận thiếp
Ngoài mây kia há kiếp chàng vay?
…………………………………
121 Nỡ nào đôi lứa thiếu niên
Quan sơn để cách hàn huyên bao ĐÀNH
Thuở lâm HÀNH oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo uyên ca.
…………………………………
Chúng tôi trích đọan Kim Dự Lan Đào trong Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh để có dịp so sánh với bài Kim Dự Lan Đào trong Hà Tiên thập vịnh, và 10 bài đường luật c̣n lại.
1. Kim dự lan đào :
Giữa trời một đỉnh cao xây
Sáu ngao ấy gián năm mây là lầu
Trải ngh́n thu con vua ngậm đá
Suy h́nh hài như thả ngọc phong
Kim thang đứng sựng giữa ḍng
Công cao nhạc lộc, tuổi đồng kiền khôn
Chốn hải muôn tiết c̣n rành rạnh
Chống miếu đường một cảnh vơi xa
Đá chồng cây nhóm giao gia
Ngấn gành cây mực, cành hoa điểm ngần
Dầu quỷ thần hẳng âu chốn chở
Khách thoạt nh́n sực nhớ bồng lai
Thú mầu quyến rũ ḷng ai
Say xưa biển rộng vùi mài non tiên.
Thế tự nhiên gành câu vịnh lưới
Nước cùng non, trên dưới đều ưa
E khi nổi trận nắng mưa
Sức lăm đánh Bắc, tài lừa pḥ Nam
Thời có lần dốc an dân chúng
Bồi thành dài, mặt chống nước xa
Ghe phen chiến hạm vào ra
Thu đào vỡ mật, phục ba kinh ḷng
Hết rủi dong, gặp ngày ca khải
Thu quân về cảnh hải dưỡng an
Một tay vững đặt giang san
Danh phong Kim Dự, tước ban Lan Đào
Bọt như phau, núi gành chẳng động
Sông biển an khơi lộng đều thanh
Hây hây nước biết non xanh
Gơ gươm thần vũ, dân lành khỏi nghiêng
Ai chẳng khen, ai mà chẳng ngợi
Hằng lân la, diệu vợi nài chi
Muốn cho sáng cả sơn khê
Đáp trong nguyên vận, ḥa đề một thiên.
Thơ rằng :
Xanh xanh dành trấn cửa Hà Tiên
Ngăn ngừa nước dữ không vùng vẩy
Che chở dân lành khỏi ngữa nghiêng
Thế cả vững vàng trên Bắc Hải
Công cao đồ sộ giữa Nam Thiên
Nước yên chẳng chút lông thu động
Rộng bủa nhơn xa tiếp bách xuyên
2- B́nh san điệp thúy :
Một bước càng thêm một thú yêu
Lằn cây vết đá vẽ hay thêu?
Mây tùng, khối liễu chồng rồi chập
Đàn suối chim ca, thấp lại cao
Luật ngọc trâu ông chăng phải trổi
Ng̣i sương ma cật đă thua nhiều
Đến đây mới biết lâm tuyền quư
Chẳng trách Sào, Do lánh đế Nghiêu.
3- Tiêu tự thần chung :
Rừng thiên sít sát án ngoài tào
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao
Chày thỏ bạt vang muôn khóm sóng
Oai ḱnh tan tác mấy cung sao
Năo phiền kẻ nấu sôi như vạc
Trí tuệ người mài sắc tựa dao
Mờ mịt gẫm dường say mới tỉnh
Phù sinh trong một giấc chiêm bao
4- Giang thành dạ cổ :
Trống quân giang thú nội uy phong
Nghiêm gióng đ̣i canh ỏi núi sông
Đánh phá mặt gian người biết tiếng
Vang truyền lịnh sấm chúng nghiêng ḷng
Phao tuôn đă thấy yên ba vạc
Nhiệm nhặt chi cho lọt mảy lông
Thỏ lụn sớm hầu chờ bóng ác
Tiếng xe sầm sạt mới nên công
5- Thạch động thôn vân :
Quỷ trổ thần xoi nổi một ṭa
Cḥm cây, khóm lá dấu tiên gia
Hang sâu thăm thẳm mây vun lại
Cửa rộng thinh thinh gió thổi qua
Trống lỏng bốn bề thâu thế giới
Chang bang một dăy chứa yên hà
Chân dời mới biết kho trời đấy
Cân đái hèn chi rở ư, la.
6- Châu nham lạc lộ :
Biết chỗ mà nương ấy mới khôn
Bay về đầm cũ mấy mươi muôn
Đă giăng chữ nhất dài trăm trượng
Lại sắp bàn vây trắng mấy non
Ngày giữa ba xuân ngân phấn vẽ
Đêm trường chín hạ tuyết sương c̣n
Quen cây chim thể người quen chúa
Dễ đổi ngh́n cân một tấc son.
7- Đông hồ ấn nguyệt :
Một hồ lẻo lẻo tiết thu quang
Giữa có vầng trăng nổi rơ ràng
Đáy nước chân mây in một sắc
Ả Hằng, nàng Tố lố đôi phương
Rạng thanh đă hứng thuyền Tô Tử
Lạnh lẽo càng đau kiếng nhạc xương
Canh một mà t́nh người dễ một
Kẻ th́ ngả nhớn kẻ sầu thương.
8- Nam phố trừng ba :
Ḍng Nam phẳng lặng khách dầu chơi
Hai thức như thêu nước với trời
Băi khói dưới kia hương lại bủa
Hồ gương trong đó gấm thêm rơi
Sống chôn vảy ngạc t́nh chi xiết
Nhạn tả thơ trời giá mấy mươi
Một lá yên ba đầu lỏng lẽo
Đông trăng lường gió nước vơi vơi.
9- Lộc trỉ thôn cư :
Lâm lộc ai rằng thú chẳng thanh?
Nữa kề nước biếc, nữa non xanh
Duỗi co chẳng túng kiền khôn hẹp
Cuối nghĩa v́ vâng đức giáo lành
Lưu loát hưởng dư ơn nước thạnh
Ê hề sẳn có của trời dành
Đâu no th́ đó là an lạc
Lựa phải chen chân chốn thị thành
10- Lư khê ngư bạc :
Bến vượt nhà ngư chật mấy từng
Trong nhàn riêng có việc lăng xăng
Lưới chày phơi trải đầy trời hạ
Gỏi rượu say sưa toại nghiệp hằng
Nghề thuấn hăy truyền bền trác trác
Dân Nghiêu c̣n thấy đủ răng răng
So đây mười cảnh thanh ḥa lạ
Họa cảnh Đào nguyên mới sánh chăng
11- Hà Tiên thập cảnh tống vịnh :
Mười cảnh Hà Tiên rất hữu t́nh
Non non nước nước gẫm nên xinh
Đông hồ Lộc trỉ luôn ḍng chảy
Nam phố,Llư khê một mạch xanh
Tiêu tự, Giang thành chuông trống ỏi
Châu nham, Kim dự cá chim quanh
B́nh san, Thạch động là rường cột
Sừng sựng muôn năm cũng để dành
Mạc Cữu dựng nên Hà Tiên trấn, Mạc Thiên Tích dựng lên Chiêu Anh Các, bao nhiêu lần làm cho đất đai miền Nam mở mang thêm, trọn đời thờ Chúa Nguyễn, xông xáo trước lằn tên mũi đạn, bôn ba nơi hải ngoại để góp công dựng nên nhà Nguyễn, ông cũng chọn một cái chết cho Chúa Nguyễn nơi hải ngoại xa xôi. Trên tao đàn văn học, ông và nhóm Chiêu Anh Các c̣n để lại những bài thơ ca tụng cảnh đẹp ở miền đất xa xôi, để nói lên cái công nghiệp mà họ Mạc đă dựng lên ở đất Hà Tiên một cách vững vàng, ông là người thành công chẳng những chẳng cả vơ mà lẫn văn ở miền Nam trong thời kỳ sơ khởi.
Ghi chú :
(X, H, T, Đ) các danh nhân có thơ họa bốn mùa được Lê Quư Đôn trích – (+) 6 vị không có tên trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quư Đôn và Gia Định Thông Chí của Trịnh Hoài Đức không có Tôn Quư Mậu.
1- Đồng lúa oằn oại thay vào cánh đô thành của cha Chu bị giặc Khuyên nhung chiếm cứ, cảnh mất nước.
2- Hai mươi tuổi.