Cái Tôi

Xin thưa!

Tôi đọc thấy Nhóm chủ trương biên tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam Hải Ngoại Sưu Khảo có yêu cầu một số tác giả, trong đó có tôi với bút danh Chánh Hạnh và Phúc Trung, cung cấp cho Ban Biên Tập những chi tiết cá nhân, h́nh, chọn lựa một số bài đắc ư và danh mục các tác phẩm cũng như bài viết.

Biết vậy đă lâu, nhưng chưa làm được v́ viết về người khác th́ dễ mà viết về ḿnh th́ khó tránh khỏi tự đề cao, tôi ngần ngại măi, cuối cùng đành phải viết để đóng góp vào việc đáng phải làm.

 Do vậy mới có bài này, dù hay dù dở nó đă là như vậy, xin hai chữ “lượng thứ” cho.

Anh Đào hiên Quư Xuân Tân Măo Niên
Phúc Trung

 

Chánh Hạnh, có khi dùng bút hiệu Tâm Không, Thanh Li ên

Tên thật là Huỳnh Ái Tông

Sanh ngày 13 tháng 5 năm 1941, tại làng B́nh Thủy, tổng Định Thành, quận Châu Thành, tỉnh Long Xuyên.

Pháp danh Phúc Trung. quy y với Ḥa Thượng Thích Thanh Thạnh, Thượng thủ Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt Tại Miền Nam năm 1958.

Huynh Trưởng Gia Đ́nh Phật Tử năm 1959

Tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật năm 1966. Cử nhân Văn Khoa Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1973, tham gia thành lập Tổng Hội Sinh Viên Vạnh Hạnh năm 1965, giữ chức Phó Chủ Tịch.

Giáo sư Trường Kỹ Thuật Ban Mê Thuột năm 1966, Hiệu Trưởng Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ năm 1974.

Tốt nghiệp Khóa 27 Trường Bộ Binh Thủ Đức, Trường Quân Cụ, cấp bậc Trung Úy, biệt phái về Bộ Giáo Dục năm 1969.

Học tập cải tạo tại Trăng Lớn 1975, Cà Tum 1977. Ra trại ngày 16-9-1977, định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO tháng 4 năm 1991, sinh sống tại thành phố Louisville, Kentucky cho đến hiện tại.

Năm 1995, Chủ Biên Bán nguyệt san Phật Học, năm 1996 trở thành nguyệt san, báo in giấy và điện tử http://nsphathoc.org , báo biếu tại Hoa kỳ và các nước khác trừ Việt Nam, nguyệt san Phật Học cũng ấn tống kinh sách gồm có:

- Đạo Phật Qua Nhận Thức Mới của Giáo sư Thạc Đức, USA 1998
- Kinh Na Tiên Tỳ Kheo do Cao Hữu Đính dịch, USA 1999
- T́m Hiểu Trung Luận Nhận Thức Và Không Tánh tác giả Giáo sư Hồng Dương Nguyễn Văn Hai, USA 2001
- Luận Giải Trung Luận Tánh Khởi Và Duyên Khởi tác giả Giáo sư Hồng Dương Nguyễn Văn Hai, USA 2003
- Nhân Quả Đồng Thời  tác giả Giáo sư Hồng Dương Nguyễn Văn Hai, USA 2007

Năm 1998. chủ trương Trang nhà Ái Hữu Gia Đ́nh Phật Tử Vĩnh Nghiêm Hải ngoại http://ahvinhnghiem.org.

Nghỉ hưu từ 15-5-2009

Tác phẩm:

- Kỷ Nghệ Họa Lớp 9 nhà xuất bản Chiêu Dương, VN 1971
- Bài tập Kỷ Nghệ Họa Lớp 8 & 9 nhà xuất bản Khai Trí, VN 1972
- Văn Học Miền Nam, hiên Phật Học, USA 2009
- Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Tập I- VII), Hiên Phật Học, USA 2012
- Hai Mươi Năm Văn Học Miền Bắc 1954-1975 (Tập I - V) Hiên Phật Học, USA 2013
- Văn Học Việt Nam Cận và Hiện Đại (Tập I - VII) Hiên Phật Học, USA 2014
- Báo chí và Nhà văn Quốc ngữ thời sơ khởi. Hiên Phật Học, USA 2014
- Những nhà bất đồng chính kiến. Hiên Phật Học, USA 2015
- Thà chết vinh hơn sống nhục. Hiên Phật HỌc, USA 2015

 

Trích văn:

Người Phật Tử Chân Chánh

Phúc Trung

I.- Dẫn : Khi người ta đi chùa lễ Phật, tụng kinh, nghe chư Tăng, Ni thuyết pháp, hay tự giới thiệu " Tôi là Phật Tử ", chúng ta biết những người ấy đều là Phật Tử, nghĩa là con của Phật, nói khác hơn là họ đă tự nguyện đi theo con đường của đức Phật, đáng cho chúng ta quư trọng, bởi v́ những người đó cùng chung lư tưởng với chúng ta về tôn giáo, nhưng quư hơn hết phải là một Phật Tử chân chánh.

II.- Những Đức tánh và bổn phận của người Phật tử chân chánh : Đạo Phật chẳng những là đạo từ bi mà c̣n b́nh đẳng và tự do đối với hết thảy mọi chúng sanh, cho nên Một Phật Tử Chân Chánh, nhất thiết đạo Phật không đ̣i hỏi người ấy phải thực hành nhiều điều khó khăn, nhưng những đ̣i hỏi phải có, chỉ cốt làm cho cá nhân người ấy được thăng hoa, nói một cách khác là được tốt đẹp hơn trong hiện tại, nhất là ở mai sau.

1) Những đức tánh cần phải :

A) Đức tin : Người Phật Tử chân chánh trước tiên phải tin rằng, đức Phật là một bậc Đại Giác Ngộ, những điều Ngài giảng được ghi lại trong Kinh điển đều là Chân lư, nhưng chúng ta nên nhớ sự tự do đầu tiên mà đức Phật đă dạy chúng ta là : "Hiểu ta rồi hăy tin ta, nếu tin ta mà chẳng hiểu ta, ấy là phỉ báng ta vậy ! "

Chúng ta tin rằng Đạo Phật là con đường chấm dứt mọi khổ đau, làm cho chúng ta an lạc trong hiện tại và giải thoát luân hồi trong tương lai.

B) Giữ giới : Trước khi đức Phật nhập Niết Bàn, Ngài dạy chư Tăng phải lấy giới luật làm Thầy, cho nên người Phật Tử chân chánh nhứt thiết phải giữ Năm giới cho được nghiêm mật, luôn luôn nhớ Giới là Thầy, Giới đứng đầu Tam Học, có giữ Giới hạnh mới sanh Định, tâm có định mới sanh ra Trí Huệ.

C) Tu học : Một người Phật Tử nếu không chịu Học, Hỏi, Hiểu, Hành th́ sẽ rơi vào tà kiến, làm những điều sằng bậy như những người b́nh thường khác. Trước tiên người Phật Tử phải học hỏi, bằng cách nghe Thuyết pháp ở chùa hay băng

(tape) do quư Tăng, Ni giảng. Đọc kinh, sách, báo Phật Giáo để hiểu những giáo lư đức Phật đă dạy. Nên thân cận những bậc chân tu, những người thiện tri thức để thấm nhuần học hạnh, gần gũi những bạn đạo đă tu học nhiều năm, có đạo đức để học hỏi luận đàm cho trí huệ ḿnh được khai mở thêm.

Kế đến là phải tu tập, công phu hằng ngày, tùy theo ḿnh chọn lựa pháp môn cho thích hợp với bản thân, hoặc ngồi Thiền, niệm Phật, tụng kinh hay tŕ chú. Lúc mới đầu có nhiều khó khăn nhưng phải cố gắng vượt qua, cần nhất là chuyên cần, ngày nào cũng phải công phu, thời công phu luôn luôn đúng giờ. Để tránh những khách khứa, giờ công phu tốt nhất là từ 5 đến 6 giờ sáng, sẽ không ai quấy rầy ḿnh được cả, vă lại về đạo học người ta cho rằng giờ khắc ấy là giao điểm giữa âm và dương sẽ có vận khí điều ḥa, rất tốt cho giờ giấc công phu.

Thứ nữa là tập vun trồng ḷng từ bi, nên cúng dường, nên bố thí; thứ nhất tạo phước đức cho chúng ta, thứ hai là tập cho quen tánh buông xả, để đến khi chết không tiếc thương, bận bịu một cái ǵ, thanh thản ra đi, chỉ tưởng nhớ đến Phật, nhờ đó Cận Tử Nghiệp (Nghiệp lành dữ lúc gần chết, quan trọng vào bậc nhất) sẽ đưa ta về chốn Cực Lạc.

2) Bổn phận của người Phật Tử : Phật đă dạy, người Phật Tử có Bốn Ân quan trọng, chúng ta có bổn phận phải làm để báo đáp những ân đó : Ân cha mẹ, ân thầy bạn, ân quốc gia xă hội và ân Tam Bảo.

A) Ân cha mẹ : Cha mẹ có những ân nghĩa đối với con cái, người nào làm cha mẹ rồi mới thấy rơ thâm ân nầy :

a) Ân sinh sản : Làm mẹ phải chín tháng cưu mang, ăn uống phải kiêng cử, phải giữ ǵn khi đi, đứng, ngủ, nghỉ cẩn thận lúc thai mang. Khi sinh con biết bao nhiêu là nguy hiểm, có khi phải bị mất mạng. Cha phải lo tăo tần làm lụng vất vả, để lo cho mẹ tṛn con vuông.

b) Ân nuôi nấng : Từ khi mới sanh ra cho đến lúc lớn khôn, cha mẹ phải tăo tần, vất vả để nuôi nấng con cái, lo cho con đủ ăn, lo cho con mặc đủ ấm, lo cho con an giấc ngủ. Mong cho con ăn ngon, chóng lớn; mua thứ nọ, tạo thứ kia luôn luôn muốn làm cho con cái ḿnh được vui vẻ.

c) Ân thuốc thang : Khi con đau ốm, cha mẹ phải lo săn sóc, chữa trị cho con, lo đến nỗi quên ăn bỏ ngủ, cốt làm sao để bảo vệ sức khỏe, thân mạng cho con cái của ḿnh.

d) Ân dạy bảo : Cha mẹ phải dạy bảo con cười vui, đi đứng, ăn uống, học hành, lễ phép và xử thế ở đời, những việc đó cốt tập cho con ḿnh từng bước đi vững vàng khi c̣n nhỏ, và khôn lớn bước vào cuộc đời, tự kiếm sống nuôi thân, làm điều hữu ích cho xă hội.

B) Ân Thầy Bạn : Ở đời người ta thường dùng ngạn ngữ : " Không thầy đố mầy làm nên", Thầy dạy dỗ, c̣n bạn bè th́ chỉ dẫn thêm. Ân nầy gồm có :

a) Mở rộng kiến thức : Thầy dạy cho chúng ta biết đọc, biết viết, biết ăn ở hiền lành phải đạo làm người, biết những điều cần phải biết, cốt để làm cho ḿnh trở thành con người tốt, hữu dụng cho xă hội.

b) Khai sáng trí thức : Chẳng những Thầy dạy cho ta hiểu biết mà Thầy và Bạn c̣n dạy cho ta biết nhận xét, lư luận làm cho trí hiểu biết của chúng ta đạt được sự thông suốt, chính xác và đúng đắn.

c) Khuyến khích : Nhờ có Thầy và Bạn luôn luôn khuyến khích, nhờ đó chúng ta được an ủi khi buồn vui, chúng ta mạnh dạn tiến bước, làm được những điều hay, lẻ phải cho bản thân và xă hội.

C) Ân Quốc Gia Xă Hội : Chúng ta sống trong một nước, giữa xă hội loài người, đời sống chúng ta được yên ổn, ấm no và hạnh phúc ; quốc gia và xă hội đem lại những điều ấy cho chúng ta, chúng ta đă thọ những ân nghĩa như sau :

a) Trị an : Chính phủ của quốc gia nào cũng lo trị an để bảo vệ chế độ, nhưng nếu v́ lợi ích nhân dân, th́ phải lo cho nhân dân yên ổn làm ăn, nhờ đó nhân dân được ấm no hạnh phúc.

b) Giữ vẹn biên cương, bảo toàn độc lập : Nhờ có quốc gia giữ ǵn, bảo vệ sự toàn vẹn lănh thổ vùng trời, đất, biển cả và bảo toàn sự độc lập. Nếu không được vậy, lănh thổ bị nước ngoài xâm lấn, đất nước bị đô hộ hay lệ thuộc nước ngoài. Một nước mất độc lập th́ dân chúng bị sưu cao, thuế nặng, làm lụng vất vả để cung phụng tài sản cho nước ngoài.

Nước mất độc lập, nhân dân không c̣n được ấm no và hạnh phúc.

c) Sự ấm no hạnh phúc : Một người chúng ta không thể nào làm đủ những nhu yếu cho chính bản thân ḿnh dùng, chẳng hạn một người không thể làm nghề nông để có đủ thức ăn, không thể làm nghề thợ dệt để có đủ quần áo, chăn mền mặc khi ấm lạnh, không thể làm ra đủ thuốc thang để trị bệnh khi đau yếu, không thể có đủ kiến thức để bảo vệ sự sống với thiên nhiên, không thể tự ḿnh làm ra đủ tiện nghi khác để ḿnh dùng. Xă hội đă phân công cho mỗi người một nghề, làm một công việc để sản xuất ra tất cả nhu yếu và phương tiện cho con người dùng.

D) Ân Tam Bảo : Đối với Phật, Pháp, Tăng người phật tử có những trọng ân như sau :

a) Ân Phật Bảo : V́ sự khổ đau của chúng sanh, Thái Tử Tất Đạt Đa đă đi t́m con đường giải thoát mọi ràng buộc khổ đau đó, là Phật tử chúng ta phải nhớ đến ân đức của Ngài :

- Ĺa bỏ ngôi báu, gia đ́nh : Ai đă làm được như Phật ? Ngài đă bỏ ngôi báu Thái Tử của ḿnh, bỏ cung vàng, điện ngọc, ĺa xa cha mẹ, vợ con để đi t́m con đường giải thoát mọi đau khổ cho chúng sanh.

- Sáu năm khổ hạnh nơi rừng già : Thái Tử Tất Đạt Đa đi tu khoảng mười năm, trong đó có sáu năm cùng với nhóm ông Kiều Trần Như tu khổ hạnh, nhịn đói, chịu rét trong chốn rừng già hiu quạnh.

- Thuyết pháp, giáo hóa chúng sanh : Sau bảy thất tham thiền, Ngài đă chứng đắc Phật quả, rồi đem chân lư ra giảng dạy cho chúng sanh tu tập để giải thoát luân hồi sanh tử. Nếu Ngài không giáo hóa làm ǵ chúng ta biết được chân lư như ngày nay.

b) Ân Pháp Bảo : Nhờ có kinh điển, ngày nay chúng ta mới biết giáo lư của Đạo Phật, do đó Pháp Bảo có những ân :

- Chỉ đường giải thoát: Nhờ có kinh điển, chúng ta hiểu được cuộc đời là giả tạm, chịu nhiều khổ đau, phải tu chứng đạt đến Niết Bàn để giải thoát mọi ràng buộc khổ đau.

- Chỉ dạy phương pháp tu học: Chẳng những Phật đă chỉ cho chúng ta thấy sự đau khổ của cuộc đời, trong sinh tử luân hồi, kinh điển c̣n ghi lại những phương pháp tu học để được giải thoát, thông thường người ta hay nói có " Tám vạn bốn ngàn pháp môn ".

- Tạo an lạc cho ta, ḥa b́nh cho thế giới: Phật dạy lánh ác làm thiện, mọi người phải từ bi, nhân ái sống với nhau trong xă hội, nhất là hàng ngày hàng giờ cho tận cùng hằng sát na (một cái co tay và duỗi thẳng tay ra, có 60 sát na) giữ cho tâm ta an lạc từng cá nhân, tất cả mọi người như thế th́ lo ǵ thế giới chẳng ḥa b́nh.

c) Ân Tăng Bảo : Tăng là những người đă ĺa bỏ gia đ́nh để tu giải thoát cho ḿnh và lo cứu giúp mọi chúng sanh, v́ thế có những ân :

- Duy tŕ chánh pháp : Những vị Tăng giữ ǵn giới luật, từ bi, bố thí những điều đó làm cho giáo lư của Phật tồn tại ở thế gian, nhờ đó chúng ta mới biết Đạo Phật, biết phương pháp tu học giải thoát.

- Thay Phật hóa độ chúng sanh : Tăng là những vị làm Sứ giả của Như Lai, tức là thay Phật giáo hóa cho chúng sanh tu học.

- Truyền trao giới pháp : Chúng ta muốn phát tâm cầu đạo, chúng ta phải quy y Tam Bảo, chính vị Tăng đă thay Phật truyền trao Giới luật và dạy cho chúng ta phương pháp tu học. Xưa Ngài Huệ Năng đă được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền trao Y Bát nhưng chưa kịp làm lễ truyền trao giới pháp; mười lăm năm sau, khi đến chùa Pháp Tánh, Ấn Tông mới họp tứ chúng làm lễ thí phát và mời các bậc danh Tăng dự Giới đàn cho Lục Tổ thọ giới ! Vậy Tăng là quan trọng đến dường ấy,

đă là Tổ rồi mà c̣n phải quy y Tam Bảo thay, huống hồ ǵ chúng ta chỉ là người thường.

3) Phương tiện đền trả bốn ân : Đối với bốn ân trọng trên, người Phật tử phải đền đáp ân sâu ấy như sau :

A) Cách báo ân cha mẹ :

- Hiếu hạnh : Luôn luôn phải làm vui ḷng cha mẹ - Tuy nhiên những việc nào không tốt th́ nên tránh -

- Làm hiển danh cha mẹ : Khi c̣n nhỏ cố gắng học hành đỗ đạt cao, để có kiến thức trong nghề nghiệp, sẽ có những đóng góp hữu ích cho Phật sự, tài bồi văn hóa, phụng sự xă hội những công việc ấy cũng làm hiển danh cha mẹ như người có chức trọng quyền cao.

Chức trọng quyền cao có khi chỉ là những cái danh hư ảo, giả tạm của cuộc đời, đừng ham tranh danh và đoạt lợi.

- Khuyến hóa cha mẹ : Nếu cha mẹ c̣n sanh tiền, chưa thấm nhuần Đạo Phật, chúng ta phải t́m cách cho cha mẹ đi chùa, niệm Phật, làm thiện lánh ác.

- Cha mẹ đă qua đời : Chúng ta phải thường xuyên hồi hướng công đức, cầu nguyện cho cha mẹ sớm được sanh về cơi an lạc, làm theo những điều mà Ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên đă làm.

B) Cách báo ân Thầy bạn :

- Siêng năng chăm chỉ học hành : Chúng ta luôn luôn học hành chăm chỉ, sự tiến bộ trong học tập làm cho Thầy bạn đều vui ḷng.

- Cung kính lễ độ : Đối với Thầy bạn chúng ta luôn luôn cung kính, v́ Thầy chẳng khác nào cha mẹ của chúng ta. Tục ngữ có câu : "Mồng một ngày cha, mồng hai ngày mẹ, mồng ba ngày thầy" (Nghĩa là ngày Tết, mồng một đi lễ ở họ Nội, mồng hai đi lễ ở họ Ngoại, mồng ba đi lễ Thầy giáo), sự kính trọng Thầy ngày xưa có câu " Nhất tự vi sư, bán tự vi sư " (Học với người một chữ cũng là Thầy, thậm chí nửa chữ cũng là Thầy của ḿnh).

- Thực hành lời Thầy, bạn : Thầy ở đây là người đáng tôn kính, bạn ở đây là bạn tốt, chỉ dạy cho ta điều hay, lẽ phải do đó khi làm điều ǵ, ta phải làm những điều hay lẽ phải như Thầy bạn đă chỉ dạy.

- Khuyến hóa Thầy bạn : Nói chung là Phật tử chúng ta phải khuyến hóa những người xung quanh, để cho họ làm lành lánh ác, nhất là đời sống, lời nói, việc làm của ta phải làm thế nào cảm hóa được họ, để họ làm theo, tức là ta đă góp phần vào việc cải tạo xă hội, làm cho nó trở nên tốt đẹp.

C) Cách báo ân Quốc gia xă hội :

- Làm tṛn bổn phận công dân : Trước nhất phải giữ luật lệ của chánh phủ, phải đóng góp vào việc giữ ǵn sự toàn vẹn lănh thổ, sự độc lập của quốc gia, dân tộc, góp phần bảo vệ các quyền lợi chánh đáng của người dân. Phát huy kỷ nghệ, kinh doanh thương mại làm cho đất nước ngày càng hưng thịnh.

- Phát huy văn hóa : Người Phật tử cũng là công dân, có bổn phận phát huy nền văn hóa dân tộc chúng ta, một dân tộc có trên 4 ngàn năm lịch sử, chúng ta đáng tự hào về di sản văn hóa ông cha ta để lại, cần phải ǵn giữ và phát huy thêm.

- Bảo vệ truyền thống dân tộc : Những truyền thống dân tộc chúng ta chẳng hạn như tinh thần chống ngoại xâm của Hội Nghị Diên Hồng, truyền thống độc lập dù chúng ta là giống Bách Việt nhưng không bị đồng hóa và lệ thuộc nước Tàu, dân tộc chúng ta luôn luôn biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Những bài như " Nam quốc sơn hà Nam đế cư " của Lư Thường Kiệt, B́nh Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trăi là những Bản Tuyên Ngôn, nêu cao truyền thống dân tộc chúng ta.

D) Cách báo ân Tam bảo : Trong bốn ân, Tam bảo phải là ân sâu, nghĩa trọng nhất, chúng ta phải báo ân nầy như sau :

- Ân Phật Bảo : Làm theo lời Phật dạy, tưởng nhớ chư Phật, dâng hương hoa, lễ bái, cúng dường để xây dựng chùa tháp thờ Phật, làm cho nhiều người tin, theo Đạo Phật.

- Ân Pháp bảo : Kinh ghi chép lời Phật dạy, thường xuyên đọc kinh điển để mở mang trí tuệ, đóng góp tiền bạc để in kinh sách, phổ biến giáo lư của đức Phật đến mọi người, để cho nhiều người biết đến, tin theo và làm đúng lời Phật dạy.

- Ân Tăng Bảo : Tăng, Ni là những người thay mặt Phật giáo hóa chúng ta, chúng ta có bổn phận phải tôn kính chư Tăng, như mẫu chuyện đạo " Con Sư Tử trọng Pháp " , phải cúng dường chư Tăng về bốn thứ (Tứ sự cúng dường) : Y phục, thức ăn, giường nằm (nơi ngủ nghỉ), thuốc thang. Ngày nay, người ta cúng dường tiền bạc và những thứ khác nhưng

tốt nhất nên cúng dường những nhu yếu, cố tránh những ǵ có thể làm tha hóa Tăng, Ni.

4.- Bổn phận trong gia đ́nh : Bổn phận trong gia đ́nh có đối với cha mẹ đă nói trong phần bốn ân ở trên, ngoài ra c̣n đối với người bạn đời (chồng hay vợ) và con cái.

A) Đối với người bạn đời : Là người ở bên cạnh ta, chia sẽ cùng ta những vui buồn, sang hèn, ta phải chăm lo cho người bạn đời của ḿnh từ vật chất đến tinh thần, nhất là phải cùng nhau sách tấn tu học, cả chồng lẫn vợ cùng nhau tu học sẽ rất dễ dàng tinh tấn.

B) Đối với con cái : Cha mẹ luôn luôn có bổn phận chăm lo cho dưỡng dục con cái, chẳng những lo chúng ăn no, mặc ấm mà cha mẹ nào cũng muốn cho con ḿnh ăn ngon, mặc đẹp, lo cho con học hành thành tài để có một nghề sống ở đời hay có danh phận với xă hội, tất cả những cái đó là những thứ thường t́nh của thế gian. Chúng ta có bổn phận thiêng liêng hơn, phải dẫn dắt con cái ḿnh bước vào con đường Đạo, chẳng những nó hữu ích cho hiện tại mà c̣n hữu ích cho tương lai. Làm cha mẹ, chúng ta nên chăm sóc, khuyến khích con cái ḿnh như sau :

- Lúc chúng c̣n nhỏ : Trẻ con từ 3 đến 12 tuổi, mỗi lần đi chùa, chúng ta nên dẫn chúng theo, đến chùa tập cho chúng biết quỳ, biết lạy, biết dâng hương hoa, tỏ ḷng cung kính đức Phật. Có người nói một cách dí dỏm rằng: Ngày nay tôi đi chùa bởi v́ hồi c̣n nhỏ, tôi theo cha mẹ đến chùa ăn kiểm hay chè xôi. Nếu có Gia Đ́nh Phật Tử nên cho chúng đi sinh hoạt với đoàn thể nầy.

- Lúc đă lớn : Chừng 13 tuổi trở đi cho đến tuổi đôi mươi, là tuổi đang t́m hiểu, học hỏi. Chúng ta nên khuyến khích con cái đi chùa, t́m những sách báo Phật Giáo cho chúng đọc, để chúng được thấm nhuần giáo lư đạo Phật.

III. - Kết luận : Đức Phật đă dạy Tăng, Ni là những vị có trách nhiệm duy tŕ chánh pháp; c̣n cư sĩ là những người có trách nhiệm hộ tŕ chánh pháp, cho nên mỗi Phật tử chúng ta phải làm tṛn trách nhiệm của ḿnh, muốn vậy chúng ta phải hiểu thế nào là người Phật tử chân chánh và ta làm tṛn bổn phận của người Phật tử chân chánh của chúng ta đối với Đạo pháp. Đừng quên chúng ta có bổn phận : Phải xây dựng gia đ́nh ḿnh, và góp phần vào việc cải tạo xă hội trở nên Chân, Thiện, Mỹ theo tinh thần Phật Giáo.

Louisville, 24-12-1996

Sách tham khảo :

Minh Châu, Thiên Ân, Chân Trí, Đức Tâm Phật Pháp, THPGVN, Sàig̣n, 1951

 

Kinh điển Phật Giáo

Chánh Hạnh

Những bài pháp đức Phật thuyết trăi qua 45 năm hoằng hóa của ngài, đă không được ghi lại bằng văn tự từ lúc Phật đương thời cho đến mấy thế kỷ sau khi ngài nhập diệt, không phải lúc đó Ấn độ chưa có chữ viết, thật ra kinh Vệ Đà của Bà La Môn đă được ghi chép bằng chữ Phạn từ trước thời đức Phật.

Những đại đệ tử của Phật như Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên trước kia ở phái San Xa Dạ thuộc Lục Sư ngoại đạo, mỗi người có đến 100 đệ tử, cũng đại đệ tử như Đại Ca Diếp vốn thuộc ḍng dơi Bà La Môn, c̣n những vị vương tử khác thuộc ḍng dơi Sát Đế Lợi như A Nan, A Na Luật, Nan Đà, Ma Ha Nam . . . dĩ nhiên những người đó làu thông chữ nghĩa Sanscrit, nhưng kinh điển đă không được ghi chép v́ theo Tạng Luật của nhiều bộ phái c̣n ghi lại sự kiện sau đây : "Bấy giờ có hai anh em Bà La Môn xin xuất gia theo Phật. Họ yêu cầu Ngài cho phép họ tụng, đọc những lời Ngài dạy theo kiểu tụng đọc kinh điển Vệ Đà mà họ đă quen đọc, họ cũng yêu cầu sử dụng tiếng Sanscrit và sắp xếp câu văn thế nào cho hoa mỹ như cách hành văn của Sanscrit trong kinh điển ấy". Về lời yêu cầu nầy, Phật dạy rằng trong đạo Ngài không cần văn chương hoa mỹ, chỉ cần nghĩa lư rơ ràng, lập luận chặt chẻ. Lời văn giọng nói cần phải đơn giản, thế nào cho người nghe hiểu được ḿnh muốn nói ǵ. Đó là vấn đề chính yếu để giải đáp cho câu hỏi v́ sao kinh điển không được ghi chép từ thời đức Phật c̣n hiện tiền.

Trong kiết tập lần thứ nhất, ngài Đại Ca Diếp đưa ra ư kiến : "Nếu chúng ta xem học pháp là những giới nhỏ nhặt, có thể loại bỏ th́ các Tỳ Kheo khác sẽ bảo: Bốn giới Ba La Đề Đề Xá Ni cũng là những giới nhỏ nhặt có thể loại bỏ. Nếu chúng ta bảo bốn giới Ba La Đề Đề Xá Ni là những giới nhỏ nhặt, th́ các Tỳ Kheo khác sẽ bảo : Các giới Ba Dật Đề cũng là những giớ nhỏ nhặt... Giờ đây chung ta không thể khẳng định, giới nào là giới nhỏ nhặt mà loại bỏ một cách tùy tiện th́ bọn ngoại đạo sẽ bảo : "Pháp của sa môn Thích tử giống như mây khói, khi thầy c̣n sống th́ những pháp do thầy chế định các đệ tử tuân thủ một cách nghiêm túc, nhưng sau khi thầy nhập niết bàn, họ không chịu thực hành nữa" Do vậy, tôi khẳng định lại : "Những ǵ không do Phật chế th́ không được tự ư chế định, và những ǵ do Phật chế định th́ không được vi phạm. Chúng ta phải kính cẩn học tập những ǵ mà Phật đă truyền dạy". Ư kiến nầy nầy đă được đại hội quyết nghị chấp thuận, do đó cho chúng ta thấy rằng, tăng đoàn quyết bảo tồn và hành tŕ đúng y theo những lời Phật dạy, Thượng Tọa bộ đă tiếp nối truyền thống nầy nên họ được mệnh danh là bảo thủ, chính truyền thống bảo thủ nầy mà trải qua nhiều thế kỷ, kinh điển vẫn khẩu truyền chớ không được ghi chép.

Tương truyền rằng sau khi măn Hạ trong lần kiết tập thứ nhất đó, ngài Ưu Bà Ly đem quyển Luật của ngài đă kiết tập ghi 1 điểm, cứ thế sau mỗi Hạ ghi 1 điểm, quyển Luật nầy có tên là Luật Thiện Kiến, sau ngài truyền cho đệ tử là Đà Đă Tật, Đà Đă Tật truyền cho ngài Tu Câu và cứ thế lưu truyền, đến ngài Bạt Đà La mang nguyên bổn Luật nầy sang Trung Hoa vào đời Tề, năm Vĩnh B́nh Thứ Bảy, dịch ra Hán Văn tại chùa Trúc Lâm ở Quảng Châu, măn Hạ năm ấy đếm số ghi cuối cùng được 976 điểm, v́ do chư thánh Tăng đă điểm vào quyển nầy, nên nó c̣n có tên là "Chúng Thánh Điểm Kư". Phật Lịch được định theo điểm kư nầy.

Nh́n lại lịch sử Phật giáo, chúng ta biết rằng kiết tập lần thứ hai khoảng 100 năm sau Phật nhập diệt, hay ở thế kỷ thứ V trước Công nguyên, lần kiết tập nầy do vấn đề giới luật, Phật giáo lần đầu tiên bị phân phái thành Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ. Đến thời đại vua A Dục, khoảng 236 năm sau khi Phật nhập Niết Bàn, tức năm 250 trước CN nhà vua hộ tŕ tổ chức kiết tập lần nầy để chỉnh đốn lại hàng ngủ Tăng già, có thuyết cho là do tân thuyết của Đại Thiên. Lần kiết tập nầy xuất hiện bộ "Thuyết sự", sau nầy người ta cho rằng từ đó Phật Giáo có đủ Tam Tạng Kinh Điển. Lần kiết tập thứ tư dưới triều đại Ca Nhị Sắc Ca (128-151), khoảng 700 năm sau khi Phật nhập niết bàn, khoảng năm 140 CN, lần kiết tập nầy, hội nghị đă sáng tác bộ "Luận Nghị" (Upadesa), để giải thích tạng Kinh, bộ "Tỳ Bà Sa" (Vibhasa) để giải thích tạng Luật và bộ "A Tỳ Đạt Ma" (Abhidarma) để giải thích tạng Luận. Như vậy cả bốn lần kiết tập, đều cho chúng ta thấy, không lần nào có tổ chức ghi chép kinh điển.

Chúng ta lại biết rằng, sau khi Phật nhập niết bàn 236 năm, dưới triều đại vua A Dục, ngài muốn truyền bá Phật giáo nên phái một đoàn truyền giáo sang Tích Lan, do Trưởng Lăo Minhada (là vương tử, con vua A Dục) hướng dẫn, đoàn truyền giáo nầy đă truyền khẩu Kinh và Luật tại vương quốc Tích Lan bằng tiếng Ma Kiệt Đà, để giải thích kinh họ dùng ngôn ngữ và chữ Tích Lan để ghi chép. Đến triều vua Vô Úy Vương (Vatthagàmani-Abhaya thế kỷ I trước Công Nguyên), một vị vua rất hâm mộ và nhiệt tâm hộ tŕ Phật giáo, đă tạo dựng một ngôi chùa nguy nga đồ sộ tại núi Vô Úy tên là Vô Úy Tự. Thời kỳ nầy vào những năm 35-32 TCN Phật Giáo Tích Lan họp chư tăng tại chùa Alu gần thị trấn Matale, kiết tập toàn bộ Tam Tạng, kinh điển bắt đầu ghi chép bằng tiếng Pali theo ngôn ngữ Ma Kiệt Đà. Về nguồn gốc tiếng Pali, các nhà khảo cứu cho rằng nó phát xuất từ nơi nào đó thuộc vương quốc rộng lớn Ma Kiệt Đà, rồi lan rộng ra các nơi đến tận Tích Lan.

Về sau, đến thế kỷ thứ V, có ngài Phật Âm (Buddhaghoso), người Trung Ấn, đến Tích Lan nghiên cứu giáo lư của Đại Tự phái ( Phật giáo Tích Lan bắt nguồn từ Đại Tinh Xá phát triển ra, nên gọi là Đại Tự phái, sau Tăng chúng ở Vô Úy Tự bất đồng ư kiến về giới luật, tách khỏi Đại Tự phái, thành lập Vô Úy Sơn Tự phái, thuộc pháp hỷ bộ, đầu thế kỷ thứ III, tại chùa Kỳ Đà Lâm, phát sinh ra một phái nửa gọi là Kỳ Đà Lâm Tự phái.), ngài Phật Âm đă dùng tiếng Pali để chú thích hầu hết các Kinh, Luật và Luận, phần nào chưa xong, sau nầy có ngài Hộ Pháp (Dhammapàla) hoàn thành, chính ngài Phật Âm (Buddhaghoso) sáng tác ra bộ Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga).

Như vậy Phật giáo Tích Lan dùng kinh điển Pali gọi là Phật Giáo Nguyên Thủy hay Phật giáo Nam Tông. C̣n Phật Giáo Đại Thừa hay Bắc Tông dùng kinh điển chữ Sanscrit. Chúng ta biết chữ Sanscrit đă có từ trước thời đức Phật, nhưng kinh điển Phật giáo được ghi chép bằng Sanscrit không rơ từ lúc nào nhưng chắc là khoảng thời thời kỳ kiết tập kinh điển lần thứ tư, những nhà nghiên cứu Phật giáo cho rằng kinh điển ghi bằng chữ Sanscrit cũng như Pali, có thể đă dựa theo nguyên bản ngôn ngữ Ma Kiệt Đà, hoặc khi ghi kinh điển Sanscrit có tham khảo bản tiếng Pali, cho nên nội dung bộ A Hàm (Agama) của Bắc Tông giống như Ngũ Bộ Kinh (Nikaya) của Nam Tông.

Chúng ta có bảng liệt kê đại cương kinh điển Nam Tông như sau :

I.- Luật Tạng :

Gồm có giới luật, nghi lễ, hành xử cho Nam, Nữ tu sĩ, chia làm 5 bộ:

1.     Ba La Di

2.     Ba Dật Đề

3.     Đại Phẩm

4.     Tiểu Phẩm

5.     Toát yếu

II.- Kinh Tạng :

Ghi những lời của Phật hay đệ tử Phật giảng dạy, được chia ra làm 5 bộ gọi là Ngũ Bộ Kinh :

1.     Trường Bộ

2.     Trung Bộ

3.     Tương Ưng Bộ

4.     Tăng Chi Bộ

5.     Tiểu Bộ

Tiểu Bộ không phải là bộ kinh nhỏ hay ngắn, mà chính ra nó là tập họp 15 bộ sách nhỏ :

a- Tiểu Tụng
b- Pháp Cú
c- Phật Tự Thuyết
d- Như Thị Ngữ
e- Kinh Tập
f- Thiên Cung Sự
g- Ngạ Quỹ Sự
h- Trưởng Lăo Tăng Kệ
i- Bổn Sanh
j- Nghĩa Thích
k- Vô Ngại Giải Đạo
l- Thí dụ
m- Phật sử
n- Sở hành tạng

III.- Luận Tạng, c̣n gọi là Thắng Pháp Tạng hay Vi Diệu Pháp

Nội dung luận giải những lời Phật dạy, hệ thống hóa những lời dạy ấy thành cơ sở triết học . . . gồm có 7 quyển :

1.     Pháp Tụ

2.     Phân Biệt

3.     Giới Thuyết

4.     Nhân Thi Thiết

5.     Biện Giải

6.     Song Luận

7.     Nhân duyên Thuyết

Ngoài ra c̣n một số tác phẩm quan trọng khác, cũng được xem như thánh điển Nam Tông, được lưu truyền cho đến nay như :

·         Đảo sử

·         Đại Sử

·         Tiểu Sử

·         Mi Lan Đà Vấn Đạo (Kinh Na Tiên)

·         Thanh Tịnh Đạo Luận

·         Thắng Pháp Tập Yếu Luận

Kinh điển Bắc Tông, nguyên bản chữ Sanscrit ngày nay phần nhiều không c̣n, hầu hết là những bản Hán dịch của Thánh Tăng Ấn Độ hay 675 bộ kinh điển Trần Huyền Trang mang từ Ấn Độ về dịch sang chữ Hán. Chia ra như sau :

I.- Tạng Luật

1.     Thập Tụng Luật

2.     Tứ Phận Luật

3.     Ma Ha Tăng Kỳ Luật

4.     Ngũ Phận Luật

5.     Tỳ Nại Da

II.- Tạng Kinh :

1.     Trường A Hàm

2.     Trung A Hàm

3.     Tạp A Hàm

4.     Tăng Nhứt A Hàm

III.- Tạng A Tỳ Đàm

1.     Phát Trí Luận của Ca Đa Diễn Ni Tử, được xem như là cái thân, có 6 chân là :

2.     Tập Dị Môn Túc Luận (tương truyền của Xá Lợi Phất sáng tác)

3.     Pháp Uẩn Túc Luận (tương truyền của Mục Kiền Liên sáng tác)

4.     Thi Thiết Túc Luận của Ca Chiên Diên

5.     Thức Thân Luận của Đề Bà Thiết Ma

6.     Phẩm Loại Túc Luận của Thế Hữu

7.     Giới Thân Túc Luận cũng của Thế Hữu

Tạng A Tỳ Đàm diễn đạt rất trung thực với những lời Phật dạy trong các kinh.

IV.- Tạng Khuất Già Đà ( Đôi khi xếp chung với Tạng Kinh gọi là Ngũ A Hàm )

1.     Khế Kinh

2.     Ứng tụng

3.     Cô khởi

4.     Nhân duyên

5.     Bản sự

6.     Bản Sanh

7.     Vị Tăng Hữu

8.     Thí dụ

9.     Luận Nghị

10.                        Tự Thuyết

11.                        Phương quảng hay Tỳ Phật Lược

12.                        Thọ Kư

Phần trên là những kinh điển Nam Tông và Bắc Tông có gần giống nhau, ngoài ra Bắc Tông là Phật Giáo phát triển nên có thêm những bộ kinh khác, loại không rơ phương danh Thánh tăng có:

V.- Bát Nhă Bộ: ( Riêng bộ nầy nguyên bản Sancrit c̣n khá đầy đủ )

1.     Đại Bát Nhă Sơ Phận

2.     Đại Phẩm Bát Nhă

3.     Tiểu Phẩm Bát Nhă

4.     Văn Thù Bát Nhă

5.     Thắng Thiên Vương Bát Nhă

6.     Lư Thú Bát Nhă

7.     Kim Cương Bát Nhă

8.     Bát Nhă Tâm Kinh

VI.- Hoa Nghiêm Bộ:

1.     Thập Địa Phẩm

2.     Hành Nguyện Phẩm tức Tứ Thập Hoa Nghiêm

3.     Phổ Hiền Hạnh Nguyện Tán

VII.- Phương Quảng Bộ:

1.     Pháp Hoa Kinh

2.     A Di Đà Kinh

3.     Bi Hoa Kinh

4.     Kim Quang Minh Kinh

5.     Nguyệt Đăng Tam Muội Kinh

6.     Soạn Tập Bách Duyên Kinh

7.     Phật Bản Hạnh Tập Kinh Dị Bản

8.     Duy Ma Kinh

Các kinh đă được sáng tác trong thời đại Long Thọ, khoảng thế kỷ thứ III :

9.     Thắng Man Kinh

10.                        Đại Niết Bàn Kinh

11.                        Giải Thâm Mật Kinh

12.                        Kinh Lăng Già

VIII.- Bảo Tích Bộ

1.     Hộ Quốc Tôn Giả Sở Vấn Kinh

2.     Đại Ca Diếp Hội.

3.     Vô Lượng Thọ Hội tức Vô Lượng Thọ Kinh

IX.- Bí Mật Bộ

1.     Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà La Ni

2.     Tán Dương Thánh Đức Đa La Bồ Tát Nhất Bách Bát Danh Kinh

3.     Kim Cương Thủ Bồ Tát Hàng Phục Nhất Thiết Bộ Đa Đại Giáo Vương Kinh

4.     Vô Năng Thắng Phan Vương Như Lai Trang Nghiêm Đà La Ni Kinh

5.     Thánh Cứu Độ Phật Mẫu Nhị Thật Nhất Chủng Lễ Tán Kinh

6.     Thánh Diệu Mẫu Đà La Ni Kinh

7.     Đại Bi Không Trí Kim Cương Đại Giáo Vương Nghi Quỹ Kinh

8.     Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh

9.     Phật Mẫu Đại Khổng Tước Vương Kinh

10.                        Đại Văn Thỉnh Vũ Kinh

11.                        Đại Tùy Cầu Đà La Ni Kinh

12.                        Đại Bạch Tản Cái Đà La Ni Kinh

13.                        Thủ Hộ Đại Thiên Quốc Độ Kinh

14.                        Đại Hàn Lâm Thánh Nan Noa Đà La Ni Kinh

15.                        Đại Hộ Minh Đà La Ni Kinh

16.                        Ma Lị Chi Thiên Đà La Ni Kinh

17.                        Văn Thù Sở Thuyết Tối Thắng Danh Nghĩa Kinh

18.                        Bát Lan Sa Phược La Đà La Ni Kinh

19.                        Nhất Thiết Như Lai Tam Nghiệp Tối Thượng Bí Mật Đại Giáo Vương Kinh

20.                        Nhất Thiết Như Lai Ô Cầm Nhị Sa Tối Thắng Tổng Tŕ Kinh

21.                        Hoại Tướng Kim Cương Đà La Ni Kinh

22.                        Tŕ Thế Đà La Ni Kinh

23.                        Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh

X.- Sáng tác của các Thánh Tăng khác :

1. Na Tiên (xuất hiện cuối thế kỷ thứ II trước công nguyên)

·         Na Tiên Tỳ Kheo Kinh

2.- Thế Hữu, ở đầu thế kỷ thứ II, người nước Gandhàra, thượng thủ kỳ kiết tập kinh điển lần thứ IV.

·         Di Bộ Tôn Luận

·         Tôn Bà Tu Mật Bồ Tát Sở Tập Luận

3.- Mă Minh, ngài sanh ở vùng sông Hằng, khoảng hậu bán thế kỷ thứ II.

·         Phật Sở Hạnh Tán

·         Đại Trang Nghiêm Luận Kinh

·         Thập Bất Thiện Nghiệp Đạo Kinh

·         Lục Thú Luân Hồi Kinh

·         Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng

·         Ni Kiền Tử Vấn Vô Ngă Nghĩa Kinh

·         Đại Tôn Địa Huyền Văn Bản Luận

·         Đại Thừa Khởi Tín Luận

4.- Long Thọ, ngài sanh khoảng đầu thế kỷ thứ III, ngườ Nam Ấn, ḍng dơi Bà La Môn.

·         Trung Quán Luận

·         Thập Nhị Môn Luận

·         Đại Trí Độ Luận

·         Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận

·         Thập Bát Không Luận

·         Đại Thừa Phá Hữu Luận

·         Bồ Đề Tư Lương Luận

·         Bồ Đề Tâm Ly Tướng Luận

·         Hối Tránh Luận

·         Phương Tiện Tâm Luận

·         Khuyến Phát Chư Vương Yếu Kệ

·         Tán Pháp Giới Tụng

·         Quảng Đại Phát Nguyện Tụng

5.- Đề Bà cũng gọi là Thánh Thiên, sinh cuối thế kỷ thứ III, người Nam Ấn.

·         Bách Luận

·         Bách Tự Luận

·         Quảng Bách Luận

6.- La Hầu La Bạt Đà La (Ràhula-bhadra), người Trung Ấn sinh khoảng cuối thế kỷ thứ III, ngài truyền bá giáo lư Đại Thừa vùng Trung Ấn.

·         (Sách của ngài chú thích Trung Quán Luận của Long Thọ nhưng đă thất truyền)

7.- Trước tác của Ngài Di Lặc (do Vô Trước ghi chép lại) :

·         Du Già Sư Địa Luận

·         Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận

·         Thập Địa Kinh Luận

·         Trung Biên Phân Biệt Luận

8.- Vô Trước, sinh ở cuối thế kỷ thứ IV thuộc nước Gandhàra, Bắc Ấn, ḍng dơi Bà La Môn. Có hai em là Thế Thân và Lân Tŕ Tử, cả ba cùng xuất gia đầu Phật.

- Hoa Nghiêm Kinh

·         Hiển Dương Thánh Giáo Luận

·         Nhiếp Đại Thừa Luận

·         Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp Luận

·         Kim Cương Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Luận

·         Thuận Trung Luận

9.- Thế Thân, sinh sau Vô Trước chừng 20 năm vào cuối thế kỷ thứ IV, xuất gia theo hệ thống Hữu Bộ ( Thượng Tọa Bộ), sau nghe lời khuyên của Vô trước, chuyển sang Đại Chúng Bộ. Tương truyền ngài là luận chủ của một ngàn bộ luận, đă được dịch sang Hán văn :

·         A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (Hữu bộ)

·         A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Bản Tụng (Hữu bộ)

·         Duy Thức Tam Thập Luận Tụng

·         Duy Thức Nhị Thập Luận

·         Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận

·         Đại Thừa Ngũ Uẩn Luận

·         Phật Tính Luận

·         Nhiếp Đại Thừa Luận Thích

·         Thập Địa Kinh Luận

·         Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Ba Đề Xá

·         Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá

·         Chuyển Pháp Luân Kinh Ưu Ba Đề Xá

·         Kim Cương Bát Nhă Ba La Mật Đa Kinh Luận

·         Lục Môn Giáo Thụ Tập Định Luận

10.- Trần Na, sinh vào cuối thế kỷ thứ V, ở nước Dràvida, Nam Ấn, lúc đầu ngài học giáo lư Thượng Tọa Bộ, sau chuyển sang Đại Chúng Bộ nên thông hiểu giáo nghĩa cả hai, ngài nhận thấy Nhân Minh học lúc ấy c̣n phức tạp, nên đă hoàn chỉnh thành hệ thống mới gọi là "Tân Nhân Minh", sáng tác của Ngài gồm có :

·         Nhân Minh Chỉnh Lư Môn Luận Bản

·         Quán Sở Duyên Duyên Luận

·         Vô Tướng Tư Trần Luận

·         Thủ Nhân Giả Thiết Luận

·         Quán Tổng Tướng Luận Tụng

·         Chưởng Trung Luận

11.- Thanh Biện, sanh khoảng tiền bán thế kỷ thứ VI, người Trung Ấn, lúc đầu theo học phái Số Luận, sau theo Phật giáo, chịu ảnh hưởng Long Thọ và Dề Bà, sáng tác của ngài có:

·         Đại Thừa Chưởng Trân Luận

·         Bát Nhă Đăng Luận Thích

12.- Hộ Pháp, sinh khoảng thế kỷ thứ VII, người nước Dràvida, ông mất lúc 32 tuổi, thầy của Giới Hiền, trước tác ngài gồm có :

·         Thành Duy Thức Luận

·         Thành Duy Thức Bảo Sinh Luận

·         Quán Sở Duyên Duyên Luận Thích

·         Đại Thừa Quảng Bách Luận

Nói đến Kinh điển Nam Tông, người ta nghĩ ngay đến kinh điển Pali, chẳng những kinh điển Pali lưu truyền trong các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Campuchea mà đă lan truyền sang các nước Tây phương trên 100 năm qua, đó là nhờ có Hiệp Hội Thánh Điển Pali (Pàli Text Society) do Tiến sĩ T.W. Rhys Davids (1843-1922) người Anh đă khởi xướng thành lập Hiệp Hội nầy từ năm 1881, trụ sở đặt tại Luân Đôn, đến nay Hiệp Hội vẫn c̣n hoạt động và đă dịch trên 100 quyển kinh điển Pali ra Anh ngữ.

C̣n nói đến kinh điển Bắc Tông, các kinh điển Sanscrit đă được nhiều dịch giả như Cưu Ma La Thập, Huyền Trang... dịch sang Hán văn hầu hết các kinh điển nêu phần trên, từ trước đến nay đă có nhiều bộ sưu tập như sau :

I.- Bộ 1 (chép tay) sưu tập từ thời Lương Vơ Đế, các kinh điển dịch ra Hán văn có tại Trung quốc từ năm 67 đến năm 517.

II.- Bộ 2 (chép tay) sưu tập dưới thời vua Hiếu Vơ nhà Nguyên Ngụy, gồm các kinh điển đến năm 533-534.

III.- Bộ 3 (chép tay) sưu tập tới năm 594, dưới thời Tùy Văn Đế.

IV.- Bộ 4 (chép tay) sưu tập đến năm 602, dưới thời Tùy Văn Đế, gồm 2109 bộ, thành 5058 quyển.

V.- Bộ 5 (chép tay) sưu tập đến năm 616 dưới thời Tùy Văn Đế.

VI.- Năm 644, dưới thời nhà Đường, lập xong thư tịch của 2847 bộ, thành 8476 quyển kinh đă phiên dịch xong, trong số có 650 bộ do Ngài Huyền Trang thĩnh từ Ấn Độ về.

VII.- Bộ 6 (chép tay) hoàn tất năm 695, dưới thời Vơ Hậu gồm 3616 bộ, thành 8641 quyển.

VIII.- Bộ 7 (chép tay) hoàn tất năm 730, dưới thời Đường Huyền Tôn.

IX.- Bộ 8 (in bằng gỗ) hoàn tất năm 972, dưới thời Tống Thái Tổ. Phải khắc 130 ngàn bản gỗ mới in xong bộ Tam Tạng nầy, năm 995, Phật giáo Trung Hoa có cho Cao Ly ( Đại Hàn) thỉnh một bộ Tam Tạng của bản in nầy. Phật giáo Cao Ly khắc và in lại thành bộ Cao Ly bổn.

X.- Bộ 9 (in) năm 1285-1287 dưới thời Thế Tôn nhà Nguyên.

XI.- Năm 1306, hoàn tất thư tịch kinh điển (đă soạn từ đời Tống cho đến đời Nguyên mới xong).

XII.- Bộ 10 (in) năm 1368-1398, dưới thời Minh Thái Tổ, bộ Tam Tạng nầy được gọi là Đại Minh Nam Kinh Đại Tạng Kinh, v́ đă được in tại Nam kinh (Nankin)

XIII.- Bộ 11 (in) năm 1403-1424, dưới thời Minh Thành Tổ. Bộ Tam Tạng nầy được gọi là Đại Minh Bắc Kinh Đại Tạng Kinh, v́ được in tại Bắc kinh (Pékin).

XIV.- Ngài Pháp sư Mật Tạng hổn hợp hai bộ trên thành một và lập thư tịch.

XV.- Bộ 12 (in) năm 1735-1737 dưới thời vua Thế Tôn và Cao Tôn đời nhà Thanh.

XVI.- Bộ 13 (in) năm 1911, Tinh Xá Tần Già ở Thượng Hải in lại bộ Súc Loát Tạng Kinh của Nhật Bản gọi là Tần Già Bản.

XVII.- Bộ 14 (in) Thương vụ ấn quán in lại Tục Tạng Kinh của Nhật Bản.

XVIII.- Bộ 15 (in) khoảng từ năm 1931-1936, có in lại Tống bản Tích Sa tạng kinh và Kim bản Đại Tạng Kinh, là những sự nghiệp vĩ đại của Phật giáo Trung Quốc, được mệnh danh là Tống Tạng Di Trân.

Về sau nầy, chắc chắn c̣n có lần in thêm Đại Tạng Kinh, nhưng bài nầy chưa có đủ tài liệu để tham khảo.

Ngoài Hán Tạng ra, kinh điển Sanscrit được Tây Tạng dịch trực tiếp từ nguyên bản rất tinh tường và chính xác, gọi là Tây Tạng Phật điển, chia làm 2 phần, một phần gọi là Cam Thù (Kanjur) và một phần gọi là Đan Thù (Tanjur), cả hai gồm đủ Kinh, Luật và Luận, phân chia như sau:

I. Cam Thù:

1.     Luật Bộ

2.     Bát Nhă Bộ

3.     Hoa Nghiêm Bộ

4.     Bảo Tích Bộ

5.     Kinh Tập (hơn 200 bộ)

6.     Đại Niết Bàn

7.     Bí Mật Bộ

II. Đan Thù :

1.     Tán Ca Tập (gồm 58 bộ)

2.     Bí Mật Nghi Quỹ (hơn 2600 bộ)

3.     Luận Thích Tập ( rất quan trọng v́ có nhiều sớ thích kinh điển, các môn học khác như Nhân Minh, Văn pháp, Âm nhạc, Toán số ...

Ở Việt Nam, từ trước kinh điển dùng chữ Hán, vào những thập niên 30 trở đi mới phiên âm chữ Việt, từ thập niên 50 trở đi mới dịch kinh sang chữ Việt, những dịch giả tên tuổi như Đoàn Trung C̣n, Thích Thiện Hoa, Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Siêu, Thích Minh Châu, Thích Thanh Từ ...

I. Luật :

1.     Luật Sa Di và Sa Di Ni

2.     Luật Sa Di Giải

II. Kinh :

·         Trường A hàm (2 quyển)

·         Trung A Hàm (4 quyển)

·         Tạp A Hàm (4 quyển)

·         Tăng Nhứt A Hàm (3 quyển)

·         Trường Bộ Kinh (2 quyển)

·         Trung Bộ Kinh (3 quyển)

·         Tương Ưng Bộ Kinh (5 quyển)

·         Tăng Chi Bộ Kinh (4 quyển)

·         Đại Bát Niết Bàn

·         Hoa Nghiêm

·         Pháp Hoa

·         Thủ Lăng Nghiêm

·         Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Kinh

·         Bảo Tích

·         Vị Tằng Hữu

·         Giải Thâm Mật

·         Kinh Hiền Ngu

·         ...

III. Luận :

·         Luận Nhiếp Đại Thừa

·         Luận Thành Duy Thức

·         Luận Đại Trí Độ

·         Luận Đại Thừa Khởi Tín

·         Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận

·         Đại trí Độ Luận

·         Trung Quán Luận

·         ...

Bảng kê trên đây c̣n thiếu sót nhiều, nhưng những kinh quan trọng đều đă được dịch, Tiểu Bộ gồm 15 quyển trong Ngũ Bộ Kinh cũng đă được dịch xong, cuối năm 1999 đă in các tập 1, 2, 3. Kết quả dịch kinh, cho thấy từ trước tuy chưa có tổ chức, nhưng công việc dịch kinh ra Việt Ngữ được chư Tăng, cư sĩ dịch khá nhiều, khá đầy đủ.

Theo trào lưu phát triển khoa học, Đại Tạng Kinh Pali ở Tích Lan, Thái Lan đă đưa vào CD Rom, Hán Tạng cũng được một hăng điện tử Nhật tài trợ đưa vào CD Rom.

Theo ngài Phật Âm (hay Phật Minh), có 7 cách phân loại thánh điển :

1. Hương vị : Trong Tăng Nhứt Bộ Kinh, Trung A Hàm, Tăng Nhứt A Hàm đều có ghi chép lời Phật dạy sau đây: "Giống như nước biển chỉ có một vị mặn, giáo pháp và giới luật của Phật cũng chỉ có một hương vị duy nhất, đó là hương vị giải thoát."

2. Pháp và Luật: Những lời Phật dạy gồm có giáo lư gọi là Pháp, và những phép tắc hành tŕ mà người tu phải tuân thủ gọi là Luật.

3. Ba phần pháp âm : Những lời Phật dạy gồm có 3 phần : đầu giữa và cuối có ghi trong các kinh: Trường bộ, Trung bộ, Tương Ưng bộ, Tăng Nhứt bộ và trong tạng Luật như sau : "Pháp Phật giảng dạy thuần thiện cả phần mở đầu, phần giữa lẫn phần cuối. Pháp ấy tốt đẹp cả ư nghĩa lẫn lời văn. Toàn bộ pháp âm đều đồng nhất, viên măn và trong suốt, thể hiện trọn vẹn phạm hạnh thanh tịnh."

4. Năm Bộ Kinh. Theo bi kư ở Sanci và Bharhut th́ Năm Bộ Kinh là chỉ cho toàn bộ những lời Phật dạy, nhưng theo ngài Phật Âm, Năm Bộ Kinh là Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Nhứt Bộ và Tạp Bộ, trong Tạp Bộ gồm cả Tiểu Bộ, tạng Luật và A Tỳ Đàm.

5. Chín Bộ Loại : Giáo điển Nam Phương chia thành chín bộ loại là :

·         Khế kinh

·         Ưng Tụng hay Trùng Tụng

·         Cô Khởi

·         Tự Thuyết

·         Bản Sự

·         Bản Sanh

·         Vị Tằng Hữu

·         Vệ Đà La

·         Vê Da

6. 84,000 Pháp Uẩn

Có nhiều vị cao tăng cho rằng phiền năo của chúng sanh có đến 84 ngàn phương cách cho nên Phật dạy 84 ngàn pháp môn để đối trị. Đây chỉ là ước lệ mà thôi, bởi v́ Phật thuyết pháp trong 45 năm, vị chi có 16,436 ngày chẳng lẽ mỗi ngày Phật phải dạy trên 5 pháp môn để đối trị với phiền năo ?

7. Tam Tạng, có nghĩa là 3 cái kho chứa, đó là Kinh, Luật và Luận, Phật chỉ thuyết Kinh và Luật c̣n Luận do các Thánh Tăng hệ thống hóa thành cơ sở triết lư và nó chỉ bắt đầu h́nh thành trong kỳ Kiết Tập lần thứ ba với tác phẩm “Thuyết Sự “ do ngài Đế Tử Tu trước tác.

Theo ngài Trí Khải thuộc Thiên Thai Tông ở Trung Hoa, ngài chia Kinh điển Phật thuyết ra làm 5 thời :

Thời thứ nhất : Sau khi Phật đắc đạo ngồi lại dưới gốc cây Bồ Đề giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên nghe.

Thời kỳ thứ hai: Thấy lời nói của ḿnh không ai hiểu, Phật đến Vườn Nai, giảng Tứ Diệu Đế và Thập Nhị Nhân Duyên cho nhóm ông Kiều Trần Như nghe, những lời Phật giảng trong thời gian nầy được ghi vào kinh A Hàm, nên gọi là thời A Hàm, kéo dài 12 năm.

Thời kỳ thứ ba : Giáo lư của Phật đă lan rộng trong dân gian, bị ngoại đạo và các phái triết học khác công kích, nên Phật giảng dạy cho đệ tử các giảng minh giải đáp được ghi trong kinh Duy Ma, Đại Tập, thời kỳ nầy kéo dài trong 8 năm, gọi là thời Phương Đẳng.

Thời thứ tư : Do các phái triết học và ngoại đạo công kích với những triết thuyết cao siêu, nên Phật phải giảng về những nguyên lư cùng tột của vũ trụ, đó là thời kỳ kinh Bát Nhă, kéo dài trong 22 năm.

Thời kỳ thứ năm : Phật giáo đă vượt lên các học thuyết đương thời, bấy giờ Phật đem lư tưởng Bồ Tát đạo và Nhất Thừa Phật Giáo giảng cho đệ tử, thời kỳ nầy là thời Pháp Hoa, kéo dài trong 8 năm và cuối cùng Phật thuyết về Niết Bàn trước khi tịch diệt.

Từ thế kỷ thứ VIII quân Hồi luôn xâm chiếm Ấn Độ, đốt phá chùa chiền, hảm hại Tăng, Ni, cho đến năm 1203, quân Hồi đem quân đánh chiếm Ấn Độ lần cuối cùng, hoàn tất cuộc xâm lăng đất Ấn, đạo Phật bị diệt vong ngay quê hương của Đức Phật, do vậy mà không c̣n những Thánh Tăng sáng tác kinh, luận để truyền bá Phật Giáo, chẳng những thế mà Tam Tạng kinh điển ghi chép bằng Sanscrit hầu hết đều không c̣n.

Liệt kê những Kinh Sách nêu trên, để thấy Kinh điển nguyên thủy Nam Tông và Bắc Tông không sai khác nhiều, chỉ có những kinh điển do Thánh Tăng Ấn Độ sáng tác mang lại cho Phật Giáo Bắc Tông nhiều kinh điển hơn. chung quy v́ lợi ích chúng sinh, đề cao lư tưởng Bồ Tát Đạo và quy nguyên Nhất Thừa Phật Giáo.

Có một điều quan trọng, xin nhắc lại lời Phật dạy trong kinh Kim Cang : "Tu Bồ Đề ! Ông đừng cho là Như Lai nghĩ như vầy: Ta Có Thuyết Pháp. Tại sao vậy ? Nếu người ta nói : Như Lai có thuyết pháp, tức là phỉ báng Phật, v́ không thể hiểu nổi lời ta nói. Tu Bồ Đề ! Thuyết pháp là không có pháp chi để thuyết. Tạm gọi là thuyết pháp."

Và trong Kinh Lăng Già Tâm Ấn Phật dạy : Thế nên nói rằng : "Ta từ đêm ấy được tối chánh giác, cho đến đêm ấy vào niết bàn, ở trong khoảng giữa không nói một chữ, cũng chẳng đă nói, sẽ nói".

Khởi thảo Feb. 20, 2000 - Sửa chữa Mar. 12, 2000

Sách tham khảo :

HT Thích Thanh Kiểm Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ ,Vạn Hạnh, Sàig̣n, Việt Nam, 1963
HT Thích Thanh Từ Kinh Lăng Già Tâm Ấn, Tu Viện Chơn Không, Việt Nam, 1989
HT Thích Thiền Tâm Phật Học Tinh Yếu, Việt Nam, 1999
Nguyễn Duy Cần Phật Học Tinh Hoa, tái bản lần I, Hồng Ân, Việt Nam, 1996
Cao Hữu Đính Văn Học Sử Phật Giáo, Tập 1, Hương Sen, Việt Nam, 1996
Nhiều tác giả Phật Học Cơ Bản Việt Nam, 1999
Kinh Nhật Tụng, Kinh Kim Cang, Việt Nam, 1992

Rồng Hiện

Huỳnh Ái Tông

"Học Tập Cải Tạo" nhắc lại đoạn đường đă qua, người trong cuộc không khỏi ngậm ngùi cho số kiếp "tù đày". Người Việt Nam ai cũng có cha mẹ, anh em, bạn bè hay họ hàng đă chịu kiếp tù đày này.

Kẻ bị giam hăm trong những khu vực đặc biệt, kẻ lên miền cao, phá rừng làm rẩy, cuốc đất đầy cỏ tranh làm nương khoai, trồng sắn, trồng bắp, trồng rau để độn vào những bữa cơm không đủ no. Họ chẳng những làm việc nặng nhọc mà c̣n ăn uống kham khổ, lại c̣n bị những "Quản giáo", tức là cai ngục nay rầy mai mắng. Những người học tập luôn luôn bị ám ảnh, bị những áp lực đè nặng lên cả thể xác lẫn tinh thần.

Người sống kiếp "tù đày" nghĩ đến cha mẹ, vợ con lấy đó làm mục đích sống và chờ đợi một ngày về gặp lại thân nhân, nhờ vậy mà họ mới có thể vượt qua mọi gian lao, khổ sở.

Trong trại không có báo chí, không có đài phát thanh v́ vậy mà có nhiều "tin tức truyền đi bằng miệng", những tin ấy lan truyền nhanh chóng và nó cũng được người ta thêm bớt vài chi tiết, cho đến nỗi khi nó quay trở lại người đă truyền tin, nó đă trở thành một nguồn tin mới lạ, làm cho người ấy tưởng: đó là một nguồn tin khác trùng với tin cũ của ḿnh, như vậy nó tạo cho người ta tin tưởng đó là sự thật, cho nên dù nó là "tin vịt", bị đồn đăi nhiều lần người ta cũng tin là thật, do đó họ sống với hy vọng ấp ủ, mà hy vọng bao giờ cũng tốt, cũng đẹp, nhờ hy vọng nên hàng trăm ngàn người đă trải qua cơn phong ba của Cộng Sản Việt Nam, đảng đă tạo ra một huyền thoại đáng sợ "Học Tập Cải Tạo".

Ngoài những tin nghe ngóng, người ta c̣n kể cho nhau nghe những chuyện trên trời, chuyện dưới đất, người kể là Bác sĩ, Kỹ sư, Nhà báo, Nhà Văn, Nhà Giáo ... Vào năm 1976, lúc c̣n ở Trăng lớn (Tây Ninh), tôi đă được anh Thịnh, một nhà giáo, quê ở Tây Ninh kể cho nghe chuyện "Rồng Hiện", thỉnh thoảng nhắc lại, tôi cảm thấy thấm thía về mặt nào đó của kiếp "tù đày" và chuyện Rồng Hiện đích thực là có giá trị cho mọi người trong đời sống hàng ngày, tôi muốn ghi chép lại đây để quí vị cùng thưởng thức.

Truyện kể như vầy : Có một chú tiểu kia chừng 11 hay 12 tuổi, chú được cha mẹ cho vào nương cửa Phật lúc c̣n nhỏ, đó là Giác Lâm một ngôi chùa cổ danh tiếng trong vùng. Nhà chú ở rất xa, đi bộ cũng mất một vài ngày đường mới đến chùa.

Chùa chú tiểu tu, có một cái ao ở phía trước khá rộng và sâu. Từ lúc tới chùa cho đến giờ chú chưa từng thấy người lớn hay trẻ em tắm ở ao đó. Chú c̣n nghe các bậc Sư huynh hay thiện tín đến viếng chùa, lễ Phật, họ nói với nhau là cái ao trước chùa rất linh thiêng, dưới đáy ao sâu kia chưa từng ai biết có ǵ.

Có người cho rằng có thể có một con Cá hóa long, một ngày nào đó nó hóa thành Rồng và sẽ từ đáy ao trồi lên mặt nước, để bay lên trời.

Một ngày nào đó, chú tiểu cắc cớ thực hiện sáng kiến táo bạo, chú lấy một cây sào, trên đầu sào, gắn một tấm bản gỗ mà chú lấy từ trong kho chứa những bản gỗ khắc Kinh, chú viết "ngày rằm tháng chạp, rồng sẽ hiện ở đây", viết xong chờ đêm khuya, chú lén cắm bản ấy ở bờ ao, v́ sợ người ta trông thấy việc ḿnh làm nên chú lựa chỗ vắng vẻ, u tịch mà cắm tấm bản vào một đêm mưa tháng Bảy.

V́ chú tiểu cắm tấm bản nơi vắng vẻ nên không ai phát hiện sớm, rồi chú cũng quên đi. Một hôm chừng hai tháng sau, có người phát hiện ra tấm bản ấy, tin tức được truyền rao đi nhanh chóng, mới đầu : "Có một tấm bản cắm ở ao thiêng trước chùa Giác Lâm, viết rằng vào ngày rằm tháng chạp sẽ có Rồng hiện", tin ấy lan truyền dần dần được thêm bớt trở thành "Có thần nhân báo tin rằng: Ở ao thiêng trước chùa Giác Lâm, vào ngày rằm tháng Chạp sẽ có Rồng hiện lên để bay về Trời".

Mới đầu người ta bàn tán tin ấy, chú tiểu chợt nhớ tới chuyện ḿnh làm, chú thấy vui vui. Ngày nọ tháng kia, chú nghe hoài lại đâm ra ngờ rằng : có lẽ thần thánh mượn tay ḿnh làm ra việc đó. Cho đến khoảng thượng tuần tháng Chạp, chú có một sự mừng vui quá đổi, v́ bà mẹ già của chú từ ở làng xa, đă lâu rồi nay mới đến chùa thăm chú c̣n cho biết : bà đến đây thăm chú và chờ xem Rồng ở ao hiện lên để bay về Trời. Có ai trong đời được xem thấy Rồng, dù tuổi già, sức yếu bà cũng lặn lội đến đây xem một lần cho biết. Rồi lần lượt có nhiều khách thập phương đến chùa,xin Sư cụ trụ tŕ cho họ tá túc ở chùa vài hôm, để chờ xem Rồng hiện.

Chú tiểu nghĩ rằng có nhiều người tin Rồng sẽ hiện, cả bà mẹ già của ḿnh cũng tin như vậy. Nh́n lại mẹ, răng rụng, má hóp, tóc bạc, bà đă tin rằng Rồng sẽ hiện, vậy th́ chắc chắn sẽ có Rồng hiện lên vào ngày Rằm tháng Chạp. Chú bắt đầu tin và chờ trông.

Đến ngày Rằm, vào buổi sáng tinh mơ đă có đông người kéo đến bờ ao, có người đốt nhang, có người bày quả phẩm nhang đèn cúng vái. Mặt ao vẫn phẳng lặng, mọi người đều sùng kính trang nghiêm, thời gian lặng lẽ trôi qua trong sự im lặng đợi chờ, đúng Ngọ cũng chẳng có ǵ, qua giờ Mùi, mây đen từ hướng Bắc kéo về báo hiệu một cơn mưa sắp đến, người ta nh́n mặt hồ để đợi Rồng hiện, nh́n lên mây để biết cơn mưa, rồi lúc nào đó, có người chỉ đám mây đen vần vũ kia và bảo :"Rồng đă hiện trên mây đó!", nhiều người khác nh́n lên mây, kẻ bảo phải, người bảo không.

Nhưng có nhiều người nh́n h́nh dạng đám mây đen kia, tin rằng Rồng đă hiện ở trên đó .

Louisville, Feb.11, 1994
Huỳnh Ái Tông
(Trích Bản Tin Liên Lạc số 1, Tháng 3 năm 1994)

 

Cô út đi tu

tâm không

Cô Út cất nhà lá một căn, ở giữa cánh đồng hiu quạnh để tu, người ta không hiểu do cô bị t́nh duyên trắc trở hay v́ t́nh cảnh của một cô gái lở thời đêm đêm lạnh lùng với gối chăn, nên cô dùng bộ áo nâu ṣng che thân, đem tâm nương tựa vào đức Phật Tổ, hoặc cô đă sớm giác ngộ.

Căn nhà của cô Út nền đất, cột gỗ, mái lợp và xung quanh che bằng lá dừa nước, phía trước nhà có một cái sân nhỏ, được quét dọn sạch sẽ, giữa sân có một bàn thông thiên, bàn thông thiên nầy cô dùng một khúc g̣n, một đầu chôn xuống đất, phần c̣n lại ngang tầm với vai người trung b́nh, trên ấy đặt một miếng gạch tàu, trên mặt gạch tàu đặt một lư hương bằng sành tráng men trắng, có vẽ nguệch ngoạt hoa lá màu xanh dương, sản phẩm của các ḷ chén ở Lái thiêu, lư hương cắm những cọng chân nhang đă phai màu đỏ, bên trái lư hương là b́nh hoa bằng thuỷ tinh, cắm những hoa điệp màu vàng chanh, phía trước lư hương có cái đĩa nhỏ bằng sành, trên đĩa đựng bốn chén chung nước, khúc cây g̣n ấy vẫn c̣n sống, nên đâm ra mấy nhánh bợ miếng gạch tàu rồi vươn lên với lá xanh, trông có vẻ u tịch.

Xung quanh bàn thông thiên, cô trồng một bụi điệp ta, một bụi bông trang màu vàng, kế đó là những bụi bạc hà tươi tốt, bên ngoài cùng là những bụi xả và hai cây xoài cát, cô dọn cỏ và luôn quét tước sạch sẻ, giữ được sự tôn nghiêm nơi thờ phượng.

Mặt trước căn nhà về phía tay trái, có một cánh cửa ra vào đan bằng tre, ở giữ căn nhà có tấm vách ván tạp ngăn phần trước làm nơi thờ cúng, phần sau là chỗ ngủ nghỉ, thông nhau bằng một lối đi ở phía tay phải.

Bàn thờ là một cái bàn bằng gỏ, có bốn chân cao chừng một thước rưỡi, treo trên vách ngay chính giữa bàn thờ là một khung kính ngang bốn tấc, cao sáu tất, lộng ảnh in màu đức Phật Tổ đang ngồi thiền định dước gốc cây Bồ Đề, ở chính giữa phía trước bàn thờ, đặt một lư hương to bằng hai gang tay, phía bên tay phải, gần sát vách cô đặt một b́nh hoa bằng thuỷ tinh cao chừng một gang tay rưỡi, bằng thuỷ tinh màu đỏ có hoa lá nổi không màu, cô Út thích cắm hoa sen, cô hái từ cái đầm cách nhà không xa, bên tay trái đối diện có một dĩa đặt trên chân gỗ cho cao thêm, trong dĩa thường chưng chuối để từ lúc c̣n xanh cho tới khi chín rục, hoặc đu đủ mới chín tới mỏ vịt cho tới khi chín vàng ngoài vỏ. Một khúc ống tre gai dùng để đựng nhang đặt cạnh b́nh hoa dựng sát vách, hai góc ngoài của bàn, ngang hàng với lư hương là hai chân đèn bằng gỗ cẩm lai, lâu ngày lên nước nâu sậm và vàng, trên chân đèn có hai cây đèn cầy đỏ đă cháy dở, c̣n lại một khúc ngắn lâu ngày chẳng dùng tới, giữa chân đèn và lư hương phía b́nh hoa c̣n có một cây đèn chong, cháy ngọn thấp leo lét suốt ngày đêm.

Ở dưới đất, sát với chân bàn phía trước trải một chiếc chiếu nhỏ, trên đó để một cái bàn thấp lè tè và nhỏ, trên mặt bàn đặt một quyển kinh chữ quốc ngữ, giấy ngă vàng, chữ mờ v́ đọc đă nhiều lần, trên quyển kinh có một xâu chuổi lên nước bóng láng với 108 hột bồ đề, bên phải đặt cái chuông miệng hai gang tay, bên trái đặt một cái mơ bằng gỗ b́nh linh lớn tương xứng với chuông, nơi đây cô Út thường tụng kinh, lần tràng chuổi hạt vào những thời công phu.

Sau bàn thờ, một chiếc tủ đứng nhỏ đặt sát vách ván , kề bên là chiếc giường gỗ kê dọc theo vách hông nhà. Giữa lối đi và chiếc giường nằm c̣n có chiếc vơng đan bằng vỏ cây bố, muốn đến giường nằm phải bước qua chiếc vơng. Phía vách sau lại có một cái cḥi làm nơi bếp núc.

Đất chung quanh nhà là một miếng đất giồng, mỗi cạnh ước chừng trên năm mươi thước. Trên miếng đất nầy theo mùa cô Út trồng bí đỏ, dưa leo, cà tím, đậu đủa, cải bẹ xanh, bắp, cô cũng có mấy giàn mướp, bầu và khổ qua. Xung quanh miếng đất cô Út cho đào mương, lấy đất đấp thành vồng, trên vồng cô trồng măn cầu Xiêm, dừa Xiêm, chuối Sứ, ổi, đu đủ nhờ vậy cô có rau cải để ăn, trái cây để chưng cúng Phật.

Thời giờ của cô Út là những buổi công phu sớm, trưa, chiều, tối. Sáng sớm vào lúc nông phu dẫn trâu ḅ ra đồng làm ruộng, cô Út cũng dậy dâng hương cúng Phật, cô thỉnh sáu tiếng chuông, lạy ba lạy ở bàn Phật, xong cô ra bàn thông thiên dâng hương rồi lạy bốn phương, mỗi phương bốn lạy, xong cô lại trở vào chỗ bàn Phật, ngồi kiết già hai tay lần chuổi hạt, miệng niệm sáu chữ Di Đà, cô niệm Phật cho đến hừng đông mới dứt thời công phu, cô lại quét dọn chung quanh nhà rồi vào ăn một chén cơm nguội trước khi bắt đầu làm rẩy, có khi cô tưới nước, có khi cô vô phân, có khi cô làm sạch cỏ dại, làm như vậy cho tới giữa buổi, cô trở vào nhà lo nấu cơm cúng Phật.

Khi cơm đă chín, cô xới ra ba thố cơm nhỏ rồi đem để lên bàn Phật, cô dâng hương và tụng một thời kinh Phổ môn, sau đó ăn cơm với những thứ rau cải cô trồng, những thứ nào dư cô bán để mua dầu ăn, nước tương, đường, muối. Những lúc đầu mùa, cuối mùa cô cũng phải ăn cơm với muối xả, mùa nước ăn cơm với rau muống luộc, bông súng, bông điên điển mọc hoang ngoài ruộng.

Cơm trưa xong cô nằm nghỉ một lát rồi đi làm rẩy, sau đó cô đi thay nước cúng, bỏ hoa cũ thay hoa mới ở bàn Phật và bàn thông thiên rồi tụng một thời kinh A Di Đà trước khi trời nhá nhem tối, như vậy cô không phải tốn dầu đèn.

Sau thời kinh, cô ăn cơm rồi đi nằm nghỉ một lát, chừng canh hai cô lại dậy dâng hương rồi vào trong mùng, ngồi niệm Phật để tránh bị muỗi đốt khi ở ngoài, niệm Phật xong cô mới đi ngủ.

Nơi đó vốn vắng vẻ, cḥm xóm chẳng có ai ngồi lê đôi mách với cô, thỉnh thoảng mới có bà con tới thăm hay anh chị ruột mang tới cho cô ít gạo hay bánh trái, việc tu hành của cô nhờ đó cũng được thuận lợi.

Có người hỏi sao không vô chùa tu, cô giải thích:

- Ḥa Thượng Quang Minh dạy : V́ chùa chưa có nhiều người phái nữ đi tu, cho nên cô phải cất cái am nầy để tu, ngài đă đặt cho nó cái tên là Thanh Tịnh Am.

Cô cũng chẳng đi đâu trừ khi có giỗ quảy cúng ở ngôi từ đường, hoặc ngày Tết ngày Rằm hay lễ lớn của Phật Giáo, cô đi lễ Phật ở chùa Quang Minh, nơi cô đă quy y với Ḥa Thượng trụ tŕ, thỉnh thoảng cô cũng đến đó, làm công quả đôi ba ngày khi mùa màng rảnh rỗi.

Ngày lại qua ngày, tháng nọ đến năm kia, cô Út tu như vậy được vài năm th́ cô bị bệnh, cô ho có máu, anh chị của cô phải đưa cô đi bệnh viện để chữa trị, cô phải nằm lại bệnh viện hơn một tháng, Bác sĩ cho về nhà nhưng cấm không cho cô ăn chay nữa, Bác Sĩ nói rằng ăn chay thiếu thịt, cá, thiếu chất bổ mới sanh bệnh, anh của cô rước về rồi giữ tại nhà ḿnh, tiếp tục săn sóc thuốc men, cho ăn uống bổ dưỡng theo lời dạy của Bác sĩ. Cái am của cô th́ mượn một người ở giữ dùm.

Bác sĩ nói ăn chay nên bệnh, cô không dám cải lại, nhưng cô hiểu người ăn chay kham khổ như cô mới bệnh, chớ ăn chay mà ăn uống đầy đủ sẽ khoẻ mạnh, nhiều vị Tăng ăn chay trường từ nhỏ về già vẫn mập mạp, người ăn mặn mà kham khổ th́ cũng bệnh như cô mà thôi.

Người giữ cái am dùm cho cô Út là một người đàn ông, không rơ gốc gác, tên họ là chi, người ta chỉ gọi ông bằng biệt danh là Sáu Ong. Biệt danh ấy bởi ông là người ở miệt dưới, làm bạn cho một chiếc ghe thương hồ lên miệt trên buôn bán. Thuở đó, trên sông Tiền Giang, Hậu Giang hay các sông miệt dưới, nhiều chiếc ghe cột nối nhau làm thành cái đuôi dài thườn thượt, ở trước có một chiếc tàu kéo đoàn ghe, người trên ghe vẫn phải điều khiển bánh lái khi chạy qua những khúc sông quanh co, hôm đó ngồi trên mui ghe để bẻ lái, không rơ ông ta ngủ gục hay tay lái chưa kinh nghiệm, chiếc ghe bị tấp vào một cây Cà na có nhánh de ra sông, nhánh cây ấy lại có một ổ ong Ṿ vẻ, ghe chạm vào nó, bầy ong bị vỡ ổ, thế là chúng tủa ra t́m người mà chích, ông ta bị nhiều con ong bu lại tấn công, đau nhức quá ông ta phải nhảy xuống sông, lặn dưới nước mà trốn. Trong khi đó, chiếc tàu vẫn kéo ghe chạy, vô t́nh bỏ ông lại, khắp người bị đau nhức ông phải ráng lội vào bờ, người ta lo cứu chữa ông, đếm khắp thân thể có sáu vết ong chích, ông ta bị hành nóng lạnh, ḿnh mẩy sưng lên khắp nơi, nhứt là cái mặt của ông, sưng to như mặt nạ của ông Địa, ông ta nằm rên h́ h́, không ăn uống, ai hỏi chi cũng không trả lời được, người ta không biết ông ta tên chi, có người nhớ tới sáu vít ong chích, nên đặt cho biệt danh Sáu Ong từ đó. Có người nói :

- May quá ! Thằng cha nầy bị sáu vít, chớ bị thêm một vít nữa thành ”nam thất, nữ cữu” th́ ngũm cù đèo rồi !

Lại có người khác phụ họa :

- Ong Ṿ vẻ làm ổ ở dưới hang, gọi là ông lỗ, trâu ḅ đi ăn vô t́nh bị nó chích cũng chết chớ đừng nói là người.

Sáu Ong từ ngày ở am của cô Út, không ai nghe ông nhắc tới cha mẹ c̣n mất, anh em làm ǵ, mà cũng chẳng nghe ông buồn nhắc tới chuyện trở về, h́nh như ông ta không có quê hương, không cần nhớ tới dĩ văng, mà cũng chẳng biết đến tương lai. Ông ta cũng chẳng biết tu hành ǵ hết, mỗi ngày vào buổi chiều ông ta thay nước, thay hoa đốt và cắm lên hương mỗi nơi một cây nhang, ông ta làm theo lời dặn của anh cô Út, nhưng chẳng xá chẳng quỳ, chắc ông ta cũng chẳng có ḷng tin nơi tôn giáo.

Ban đầu anh cô Út cung cấp gạo, muối, nước mắm cho Sáu Ong, lần lần ông ta đi làm thuê, làm mướn để mua gạo, mua thức ăn, ai gọi ông ta giă gạo, xay lúa, chèo ghe, đào đất, đốn cây việc nào ông ta cũng làm, họ trả công cho ông bằng gạo hay bằng tiền cũng được, nhờ đó ông ta sống qua ngày.

Nhà ai có đám cưới, đám hỏi, ma chay hay đám giổ, Sáu Ong đều đến giúp những công việc nặng nhọc như gánh nước, bửa củi, giă gạo, che rạp, dọn bàn, khiêng ghế việc nào ông cũng làm, ai cũng mến thương ông điểm nầy, đôi khi người ta b́nh phẩm lúc trà dư tửu hậu :

- Sáu Ong như thế mà cũng được, hắn vui vẻ giúp đỡ mọi người, tánh t́nh hiền từ như cục đất !

Một người khác cải lư :

- Coi vậy chớ cục đất ác lắm nghe, có khi đi vấp phải bị sứt móng chân chảy máu, có khi bị té lăn cù.

Lại có ư kiến của người khác :

- Người ta bảo tu hiền ! Mà hiền như Sáu Ong th́ c̣n cần ǵ phải tu ?

Một người sành sỏi giải thích :

- Tu hiền đâu phải vậy nè ! Người ta muốn nói người tu phải ăn ở hiền lành, và tu tâm sữa tánh để thành Phật, chớ hiền như Sáu Ong mà không tu, th́ chỉ thành cục đất ở ngoài nghĩa địa mà thôi.

Người ưa cải lư tiếp lời :

- Vậy để tôi làm cục đất cho mấy cha coi, sướng thấy mồ !

Người kia hỏi lại :

- Sướng cái nỗi ǵ ?

Anh ta trả lời :

- Cục đất có khi người ta nắn thành cái chưng nhang, cắm cây nhang lên đó, ḿnh lạy sói trán chớ phải chơi đâu !

Mọi người cười x̣a.

Thật ra Sáu Ong là người không biết chữ nhứt một , ông ta chẳng thông minh mà cũng chẳng ra người đần độn, tuổi tuy ngoài bốn mươi nhưng chẳng thấy ông chọc ghẹo đàn bà con gái, tánh khí ông hay nóng nảy cọc cằn đối với trẻ nhỏ chăn trâu, chăn ḅ ngoài đồng; cho nên chúng thường khuấy phá, chọc ghẹo, có khi chúng biết ông đang ngủ trưa bèn lấy đất ném vào nhà, gây thành tiếng động làm cho ông ta không ngủ được, có khi chúng thấy ông đi vắng, vào trong am lấy cơm, thức ăn ra, chúng ăn hết lại đem nồi niêu bỏ trên giường nằm của ông ta.

Bị phá giấc ngũ, Sáu Ong thường rượt bọn trẻ con, vừa rượt vừa nguyền rủa : “ -Bớ ông Tà ! Hăy bẻ tay, bẻ chân mấy thằng ôn dịch vật nầy dùm tôi cái ông tà!”

Bị bọn trẻ ăn hết cơm, trái cây hay phá phách đồ đạc lung tung trong nhà, ông thường nói: - Vái Bà Chúa Xứ ! Bà có linh thiêng xin bà hăy vặn họng, bẻ cổ mấy thằng phá phách nầy, Bà cho tôi bắt được chúng tôi cúng bà con gà”, vái van và chửi rủa như vậy nhưng ông ta chưa hề bắt được đứa nào, c̣n bọn chúng là mục đồng nào có biết sợ ông Tà. Với chúng, ông Tà chỉ là cục đá có quấn miếng vải đỏ, đặt trong cái miễu nhỏ lợp lá có lọ chao hay vỏ hộp lon, đựng đất để cắm nhang, thỉnh thoảng có người đốt nhang, cúng năi chuối hay cái bánh, người cúng vừa đi khỏi là bọn chúng lấy chia nhau ăn hết.

Am của cô Út là nơi để tu, Sáu Ong ở đó chẳng biết tu hành, người ta thường nói :Phật tức tâm” hay “Phật tại tâm” . Sáu Ông chẳng phải là kẻ hung ác, ông ta chẳng đâm heo thuốc chó, nhưng con nít chọc ghẹo th́ ông ta nổi tam bành lục tặc lên rồi nguyền rủa, lời lẻ độc địa, cho nên tâm ông ta đâu có Phật, tượng Phật mà cô Út thờ chỉ là tờ giấy có h́nh, cái am của cô Út chỉ là cái nhà b́nh thường để ông ta ở, có khi nó lại là địa ngục mỗi lần ông ta nổi khí xung thiên.

Theo cô Út, Sáu Ong đă làm biến chất cái am của cô, ngày c̣n ở đó, cô đă cho bọn trẻ khi trái chuối, lúc miếng đu đủ chín xẻ ba, xẻ tư, cho nên chúng nó mến cô. Những lúc rảnh rổi chúng c̣n theo cô xách nước tưới rau, cuốc đất lên vồng, tỉa bắp, tỉa đậu, đào lổ trồng cây, cô thương chúng như con cháu trong nhà, trái lại Sáu Ong xem bọn chúng như kẻ thù.

Cho nên mấy tháng sau khi lành bệnh, cô Út không trở lại am tranh của ḿnh nữa. Người ta nghĩ, có lẽ cô lên vùng Thất sơn, vào một ngôi chùa nào đó để tu. Nhưng vài năm sau, có người đi Hà Tiên về cho biết, đă gặp cô xuống tóc làm cô Văi, theo tu với một Ni sư và vài cô Văi khác trong một ngôi chùa ngoài đó.

Mấy năm sau, không rơ ai cho cô biết, cô trở về để chịu tang khi Ḥa Thượng Minh Quang viên tịch, người ta thấy cô mặc áo nhật b́nh màu lam, đầu đội khăn lam, cô có da có thịt hơn xưa, bên má phải lại có cả một vết thẹo to, tuy nó không làm cho gương mặt cô khó coi, nhưng nó cũng làm biến đổi đôi chút.

Đến đêm cô Út về nhà người anh nghỉ, chị dâu cô mới hỏi :

- Cô Út à ! Cô đi tu ở chùa, vậy mà có ǵ khó lắm không ?

Cô Út có vẻ suy nghĩ một chút mới trả lời :

- Chị Ba à ! Tu th́ không khó, nhưng có những cái nghiệp, những thử thách mới là khó.

- Khó như thế nào ? Cô Út nói thử cho chị nghe coi.

- Chẳng hạn đi tu th́ ăn chay, em ăn chay đă bốn năm, cuộc chay lạt vẫn b́nh thường. Lần đó Ni sư có việc đi vắng, giao chùa cho em trông nom, bỗng nhiên em thèm ăn gị heo hầm măng, thèm đến nổi đêm c̣n nằm chiêm bao, thấy có người bưng cho một tô canh gị heo, sáng ra đang ngồi sàng gạo ở ngạch cửa. thấy một con heo hàng xóm đi ngang, thấy cái gị sau con heo ấy nơn nà lại thèm hơn, thèm thiếu đều muốn nhảy ra chụp lấy nó, cắn cái đùi ăn liền.

Người chị dâu bị kích thích v́ điều bí mật bất ngờ nầy, nên chận lời cô Út, hỏi ngay :

- Rồi cô Út giải quyết làm sao ?

- Em chưa được ăn nên em càng thèm quá, em cũng chưa biết giải quyết ra sao hết, Ni sư lại lại đi vắng. Bỗng nhiên may quá ! Trưa hôm đó có một đoàn Sư khất thực đi ngang qua, em thỉnh vào chùa tŕnh bày tự sự. Vị sư trưởng bảo đó là cái nghiệp của em, sư nhận ở lại tụng kinh giải nghiệp cho em ba đêm, từ đó em không c̣n thèm gị heo hay thịt cá ǵ nữa.

Chị dâu của cô Út muốn biết thêm nên hỏi :

- Khi Ni sư về, cô có tŕnh lại cho Ni sư biết để dạy chi không ?

- Có chớ chị ! Ni sư nói với em rằng : Hồi đó Ni sư khoảng ba mươi tuổi, đi tu đă được mười năm, đă làm trụ tŕ ngôi chùa hiện nay. Một hôm Ni sư bỗng thèm ăn canh chua cá bông lau, thèm đến chảy nước miếng, thèm không thể chịu đựng được, Ni sư bèn đi sang nhà thím Tư bên cạnh chùa, Ni sư thú thật và nhờ thím ấy ra chợ mua một con cá bông lau chừng một kư, mua bạc hà, rau thơm, cần nhứt là lựa ớt nào thật cay mua cho Ni sư chừng một chén, nhưng dặn giữ kín đừng cho ai biết.

Thím Tư cũng sốt sắng đi chợ và về sớm, Ni sư nhờ thím Tư ở lại nấu với Ni sư, trong khi thím Tư nấu canh chua, Ni sư xắt hết ớt, lúc thím Tư múc tô canh chua bốc khói, đặt lên mâm cơm bưng để lên bàn trước mặt Ni sư, Ni sư nghe mùi ngon vô cùng, rồi Ni sư lẹ làng hốt hết ớt bỏ vào tô canh chua, lấy đủa quậy cho đều, rồi lấy muỗng múc canh chua đưa lên miệng để húp. Ni sư rán húp lẹ làng, liên tục hai ba muỗng, nước canh đang nóng lại thêm ớt cay, thiếu điều nổ con mắt, Ni sư nói thôi th́ nước mồm, nước mũi, nước mắt chảy choàm ngoàm, thím Tư kinh hải, thương hại cho Ni sư, thím chạy đi lấy nước, lấy đường cho Ni sư uống, lấy khăn lau nước mắt lau mặt cho Ni sư, từ đó cái miệng của Ni sư không c̣n dám thèm thịt cá nữa.

Người chị dâu ngập ngừng lại hỏi thêm :

- C̣n cái thẹo trên mặt của cô ?

- Cái thẹo nầy em xứt nghệ nên mới được như vậy, chị biết không, người ta lấy nguyên một bó nhang dụi vào mặt em, cũng may mà nó chỉ ở nơi g̣ má.

- Tại sao chuyện xăy ra dữ vậy cô Út ?

- Nghiệp chướng mà chị Ba, người ta chọc ghẹo em, c̣n em quyết chí tu hành mà, đêm đó vào lúc đầu hôm, em cầm nguyên bó nhang đă đốt cháy, đem ra ngoài sân chùa cúng, có người ŕnh sẳn, từ trong bụi kiểng nhảy ra ôm em, em la lên, người đó lấy một tay chụp tay em đang cầm bó nhang dụi vào mặt em, em né sang nên trúng vào má, rồi người đó buông em ra mà chạy thoát thân. Người trong chùa, người hàng xóm nghe tiếng em la, họ chạy tới tiếp cứu em, nhưng không bắt được tên kia.

Người ta bàn với Ni sư và dạy em nên đi thưa với làng xă để lùng bắt tên bất nhân ấy. Khi mọi người ra về hết, Ni sư mới dạy em: “Đă đi tu phải hiểu mọi chuyện đều có nguyên nhân, quả báo của nó. Có thưa đến cửa quan, bắt được kẻ kia làm tù tội hắn, th́ oán càng chồng chất, bao giờ mới giải được mối oan khiên, rủi bắt lầm một kẻ khác, làm cho họ bị tù tội, tự ḿnh gieo nghiệp ác, phải trả quả mai sau. Cho nên đi tu rồi, biết đâu là thiện, đâu là ác, thiện nghiệp bực Bồ Tát c̣n chẳng làm, huống chi là ác nghiệp. Ni sư khuyên thêm : Vậy th́ con nghĩ cho kỷ đi, muốn đi thưa hay không tuỳ ở nơi con!” Đêm đó em suy nghĩ, em quyết định làm theo lời dạy của Ni sư, em không thưa kiện mà cũng không oán hận ǵ hết.

- Tội nghiệp cô quá !

- Có chi mà tội nghiệp chị Ba ! Em coi đó là nghiệp, tu để giải nghiệp, nên vui ḷng được trả quả mà.

Lời cô Út như kết luận câu chuyện, hai người im lặng, phía cây cột cái ở vách hướng đông, nổi lên mấy tiếng con thằng lằng chắt lưỡi, rồi bốn bề yên lặng, đêm thật là yên tĩnh, cô Út như nghe rơ được chiếc lá rụng vừa chạm mặt đất bên ngoài, cô muốn được hưởng cái yên tĩnh đó dài lâu.

Oct. 6th,1997

Danh Mục Các Bài Viết

Phúc Trung: 130
 

- Kỷ Yếu GĐPT Miền Vĩnh Nghiêm in năm 2003 Tuệ Linh & Phúc Trung
- Kỷ yếu Gia Đ́nh Phật Tử Miền Vĩnh Nghiêm bản gốc năm 2003 Phúc Trung
- Một thời để nhớ Phúc Trung

- Mười năm tưởng nhớ Trưởng Tâm Ḥa Ngô Mạnh Thu Phúc Trung
- Viếng mộ Bác Tâm Thông Nguyễn Đức Lợi Phúc Trung
- Hiệp Kỵ GĐPT Miền Vĩnh Nghiêm và Tưởng Niệm HT Ngô Mạnh Thu Phúc Trung
- Nhớ lại Phúc Trung

- Lễ Tấn Phong Cấp Dũng cho Huynh Trưởng Nhuận Pháp Lê Cao Phan Phúc Trung
- Đàn Chim Mỏi Cánh Phúc Trung
- Hiệp Kỵ GĐPT Miền Vĩnh Nghiêm 2013 Phúc Trung
- Dự buổi Thuyết Giảng Của Đức Đạt Lai Lạt Ma Phúc Trung
( * ) - Lược sử đức Phật Phúc Trung
( * ) - Sự truyền bá đạo Phật Phúc Trung
( * ) - Phật giáo Trung Hoa Phúc Trung
( * ) - Phật giáo Việt Nam Phúc Trung
( * ) - Các tông phái Phật giáo tại Việt Nam Phúc Trung
( * ) - Bốn đế Phúc Trung
( * ) - Sáu độ Phúc Trung
( * ) - Tám đường chánh Phúc Trung
( * ) - Người Phật Tử Chân Chánh Phúc Trung
( * ) - Bát quan trai Phúc Trung
( * ) - Ăn chay Phúc Trung
( * ) - Cúng dường Tam bảo Phúc Trung
( * ) - Bố thí Phúc Trung
( * ) - Phương pháp tu học hàng ngày Phúc Trung
( * ) - Lư Luân Hồi Phúc Trung
( * ) - Lư Nhân Duyên Phúc Trung
( * ) - Lư Nhân Quả Phúc Trung
( * ) - Thiện ác nghiệp báo Phúc Trung
( * ) - Mười hai nhân duyên Phúc Trung
( * ) - Năm giới Phúc Trung
( * ) - Niệm Phật Phúc Trung
( * ) - Nhập thất Phúc Trung
( * ) - Thiền Phúc Trung
( * ) - Thiền con đường chuyển hóa Phúc Trung
( * ) - Cách thức trang thiết bàn Phật Phúc Trung
( * ) - Nghi thức Chuông Mơ Phúc Trung
( * ) - Tụng kinh chủ lễ Phúc Trung
( * ) - Ư Nghĩa kinh nhật tụng Phúc Trung
( * ) - Tu học Phúc Trung
( * ) - Phương pháp tu học Phúc Trung
( * ) - Sống Chết Và Tu Học Phúc Trung
( * ) - T́m Hiểu Do Đâu Chú Đại Bi Bị In Thiếu Âm Phúc Trung

( * ) - Huệ Năng Lục Tổ Phúc Trung
(
* ) - Đức Phật Thầy Tây An Phúc Trung
( * ) - Đoàn Trung C̣n nhà học Phật miền Nam Phúc Trung
( * ) - T́m hiểu Bát nhă ba la mật đa Tâm kinh Phúc Trung
       - Vũ trụ và Con người dưới cái nh́n của Triết học, Khoa học và Tôn giáo Phúc Trung

( * ) - Tín ngưỡng
( * ) - Triết học
( * ) - Khoa học
( * ) - Khổng giáo
( * ) - Lăo giáo
( * ) - Do Thái giáo
( * ) - Thiên chúa giáo
( * ) - Hồi giáo
( * ) - Ấn giáo ( Bà La Môn)
( * ) - Phật giáo

       - Lư Duyên Khởi Phúc Trung
( * ) - Duyên khởi và vô minh duyên khởi.
( * ) - Lục đại duyên khởi.
( * ) - Nghiệp cảm duyên khởi
( * ) - A Lại Da duyên khởi
( * ) - Như Lai tạng duyên khởi
( * ) - Pháp giới duyên khởi
( * ) - Tổng kết về Duyên Khởi

( * ) - Ư Nghĩa cờ Phật Giáo Thế Giới Minh Đức & Phúc Trung
( * ) - Vơ Tắc Thiên và Phật Giáo Đời Đường Minh Đức & Phúc Trung
( * ) - Ái Hữu GĐPT Vĩnh Nghiêm Hải Ngoại Phúc Trung
( * ) - Anh Đoàn trưởng Phan Cảnh Tuân của tôi Phúc Trung
(
* ) - Ăn để mà chết Phúc Trung
(
* ) - Ăn Gạo Lứt Muối Mè Phúc Trung
( * ) - Bác Hiền Của Tôi Phúc Trung
( * ) - Bát Nhă Tâm Kinh Phúc Trung
( * ) - Bụi Đường Phúc Trung
( * ) - Các v́ vua Cambodia cận kim Phúc Trung
( * ) - Cây Bồ đề trên tu viện Kim Sơn Phúc Trung
( * ) - Chim hót trên cành Phúc Trung
( * ) - Chùa Phật Nằm Wat Pro tại Bangkok, Thái Lan Phúc Trung
( * ) - Chùa Phật Ngọc Bangkok, Thái Lan Phúc Trung

( * ) - Chùa Phật Vàng Traimit Bangkok Thái Lan Phúc Trung

( * ) - Chùa Vàng Chùa Bạc ở Phnom Penh Phúc Trung
( * ) - Chùa Vàng Shwedagon Miến Điện Phúc Trung
( * ) - Chuyện của một Thiền sư Phúc Trung

( * ) - Công Đức Sanh Thành Phúc Trung
( * ) - Cửa Không hé mở Phúc Trung
( * ) - Cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha Phúc Trung
( * ) - Dự buổi Thuyết giảng của đức Dạt Lai Lạt Ma và Tam Đàn Đại Giới Phúc Trung

( * ) - Đà lạt mù sương Phúc Trung
(
* ) - Đại Hồng Chung Phúc Trung
( * ) - Đến Cali Phúc Trung
( * ) - Đến San José năm 2009 Phúc Trung
( * ) - Đường Về Hội Ngộ 2008 Phúc Trung
( * ) - Ghi nhanh Bắc Cali Phúc Trung
(
* ) - Ghi nhanh Nam Cali Phúc Trung
( * ) - Hội Ngộ lần đầu Phúc Trung
( * ) - Hướng về Phật Ngọc tại Tu viện Quán Âm, Memphis, Tennessee Phúc Trung
( * ) - Kể chuyện Ḷng Ṿng Phúc Trung
( * ) - Kim Các Tự ở Kyoto Nhật Bản Phúc Trung
( * ) - Kỷ niệm c̣n đó Phúc Trung
( * ) - Lược sử Gia Đ́nh Phật Tử Việt Nam Phúc Trung
( * ) - Một chuyến rong chơi Phúc Trung
( * ) - Một chuyến về nguồn Phúc Trung
( * ) - Một lần họp mặt Phúc Trung
( * ) - Một người đă qua Phúc Trung
( * ) - Một thoáng hương xưa Phúc Trung
( * ) - Ngân Các Tự ở Tokyo Nhật Bản Phúc Trung
( * ) - Nguồn gốc Gia Đ́nh Phật Tử Phúc Trung
( * ) - Người mới ra đi Phúc Trung
( * ) - Nhắc Chuyện Cũ Phúc Trung
( * ) - Nh́n lại bước đầu về Bản Tin Ái Hữu GĐPT Vĩnh Nghiêm Phúc Trung
( * ) - Những Bước Đi Phúc Trung
( * ) - Sàig̣n tôi lại trở về Phúc Trung
( * ) - Sự h́nh thành GĐPT Vĩnh Nghiêm Ngô Mạnh Thu, Tuệ Linh, Thiện Thanh, PT
( * ) - Thống Nhất Gia Đ́nh Phật Tử
Phúc Trung
( * ) - Thơ: T́m Sư Phúc Trung
( * ) - Thương Nhớ Vũ Ngọc Khuê Phúc Trung
( * ) - Tiểu sử Huynh Trưởng Cấp Dũng Nguyên Phương Hoàng Trọng Cang Phúc Trung
( * ) - Tiểu sử Trưởng Huynh Chinh Tiến Nguyễn Đức Long Thiện Thanh & PT. ghi
( * ) - Tính sổ cuối năm Phúc Trung
( * ) - Trà, Nghệ thuật uống trà, Công dụng của trà
Phúc Trung
( * ) - Trở lại Cali Phúc Trung
( * ) - Trở lại Việt Nam Phúc Trung
( * ) - Trở về Việt Nam Phúc Trung
( * ) - Tưởng nhớ Anh Phúc Trung
( * ) - Tưởng nhớ Chị Nhất Chi Mai Phúc Trung
( * ) - Tưởng nhớ Trưởng Ngô Mạnh Thu Phúc Trung
( * ) - Tưởng niệm Trưởng Tâm Huệ Cao Chánh Hựu Phúc Trung
( * ) - Về anh Tâm Lạc Nguyễn Văn Thục Phúc Trung
( * ) - Về mái chùa xưa Phúc Trung
( * ) - Viết v́ người nằm xuống Phúc Trung
( * ) - Việt nam một chuyến về thăm Phúc Trung
( * ) - Việt Nam ngày trở về Phúc Trung


Chánh Hạnh: 20


( * ) - Ấn Độ đến thời đức Phật Chánh Hạnh
( * ) - Kiết tập kinh điển Chánh Hạnh
( * ) - Trào lưu tư tưởng Phật giáo Ấn độ Chánh Hạnh
( * ) - Các bộ phái Phật giáo Ấn độ Chánh Hạnh
( * ) - Kinh điển Phật giáo Chánh Hạnh
( * ) - Niệm Phật Pháp môn thù thắng Chánh Hạnh
( * ) - Ư nghĩa lễ Vu Lan Chánh Hạnh
( * ) - Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Chánh Hạnh
( * ) - Quán Thế Âm Bồ Tát Chánh Hạnh
( * ) - Đại Thế Chí Bồ Tát Chánh Hạnh
( * ) - Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Chánh Hạnh
( * ) - Tam giới duy Tâm, vạn pháp duy Thức Chánh Hạnh
( * ) - Tôi học Duy Thức Chánh Hạnh
( * ) - Lương Vơ Đế Phật Tâm Thiên Tử Chánh Hạnh
( * ) - Chuông Trống Mơ và Chuông Trống Bát Nhă Chánh Hạnh
( * ) - Ăn Chay Và Sức Khỏe Chánh Hạnh
( * ) - Về một quyển sách Chánh Hạnh
( * ) - Vành Khăn Tang Cho Thầy Chánh Hạnh
( * ) - Tản Mạn Về Lăo Tiền Bối Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha Chánh Hạnh
( * ) - Cư sĩ Tâm Minh Lê Đ́nh Thám Chánh Hạnh tổng hợp
 

Huỳnh Ái Tông: 344 bài
 
Cập nhật 10-04-2016
(344 bài)
 
 - Đêm Ca Nhạc Của SBTN tại Tp. Louisville năm 2012
 - Định Mệnh Kim Ny & Huỳnh Ái Tông

 

 

 

Tâm Không: 11

 

( * ) - Cô Út đi tu Tâm Không
( * ) - Cửa không dậy sóng Tâm Không
( * ) - Một bước sa chân Tâm Không
( * ) - Một câu chuyển ngữ Tâm Không
( * ) - Một chuyến thi Phật Tâm Không
( * ) - Một chuyến xuôi nam Tâm Không
( * ) - Một kẻ có ḷng Tâm Không
( * ) - Một ngón tay thiền Tâm Không 
( * ) - Một nhà ngộ đạo Tâm Không
( * ) - Ông Phật cô đơn Tâm Không
( * ) - Vô môn quan Tâm Không
 

Thanh Li ên: 3

( * ) - Một bài Ca dao Thanh Liên
( * ) - Tản mạn về Huế Thanh Liên
( * ) - Tản mạn về Sàig̣n Thanh Liên

 

TNS: 3

( * ) - Óc Eo nền văn minh cổ trên đất An Giang TNS
( * ) - T́nh cảm gia đ́nh TNS
( * ) - Tỉnh Mộng truyện ngắn TNS

 

Địa Chỉ Web Của Tôi:

http://ahvinhnghiem.org

http://nsphathoc.org

http://ahvinhnghiem.org/CaoThang/

https://sites.google.com/site/truongkythuatcaothang/home

http://ahvinhnghiem.org/nguyentruongto/

http://huynhaitong.blogspot.com

http://chanhhanh.blogspot.com

http://culaonanggu.blogspot.com

http://caodangsuphamkythuat.blogspot.com

http://daihocvanhanh.blogspot.com

 

20-11-2015